Thứ Sáu, 18 tháng 8, 2017

Một thời làm báo tiếng Anh…

Tất cả bắt đầu từ “Vietnam Investment Review” (VIR), tuần báo ra đời ngày 27/09/1991 tại Sài Gòn và Hà Nội. Giờ nhìn lại, VIR là tờ báo có nhiều… “cái nhất”. Đó là điều không thể chối cãi và cũng không hề mang tính cách khoe khoang!

Vietnam Investment Review, số đầu tiên ra mắt ngày 27/09/1991.

Thứ nhất, VIR là tờ báo đầu tiên dưới dạng “Hợp đồng Hợp tác Kinh doanh” (Business Co-operation Contract – BCC) với nước ngoài. Khái niệm BCC là một trong 3 hình thức đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (Foreign Direct Investment – FDI) của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Ba hình thức đầu tư gồm:

(1) Liên doanh (Joint Venture): các nhà đầu tư đem vốn vào VN, tìm một đối tác bản xứ để thành lập một liên doanh. Phần đóng góp và quyền lợi của hai bên được quy định theo Luật đầu tư của nhà nước. Phần đóng góp của đối tác Việt Nam (phần lớn là các đơn vị quốc doanh) góp vốn bằng… đất đai.

(2) Công ty có 100% vốn nước ngoài (100% Foreign-Owned Business): nói một cách khác, nhà đầu tư nước ngoài đem tiền vào Việt Nam để tự kinh doanh và dĩ nhiên chịu một khoản thuế đóng góp vào ngân sách nhà nước.

(3) Hợp đồng Hợp tác Kinh doanh (Business Cooperation Contract – BCC): đây là hình thức đầu tư của nước ngoài vào các lãnh vực “nhạy cảm” như dầu khí, xuất bản, báo chí…thường có hợp đồng tối đa là 10 năm và có thể gia hạn hợp đồng.

Tờ VIR ra đời dưới hình thức BCC giữa nhà đầu tư đến từ Úc châu và Ủy ban Nhà nước về Hợp tác Đầu tư (State Committee for Cooperation and Investmant – SCCI). SCCI là tiền thân của Bộ Kế hoạch và Đầu tư ngày nay. Và đó cũng là lý do VIR là tờ báo kinh tế bằng tiếng Anh đầu tiên được thành lập tại Việt Nam.

VIR kỷ niệm 1 năm ngày thành lập tại Saigon Floating Hotel

Theo hợp đồng, phía nước ngoài phụ trách toàn bộ “đầu vào” cho VIR gồm việc tuyển dụng nhân viên và cung cấp cho các nhà đầu tư nước ngoài những thông tin có liên quan đến kinh tế và đầu tư tại Việt Nam. Phía SCCI chỉ định Tổng Biên Tập có nhiệm vụ duyệt nội dung trước khi báo phát hành.

Nhìn từ bên ngoài, VIR rất đơn giản theo hợp đồng nhưng đi sâu vào bên trong là cả một cuộc chiến giữa hai đối tác Việt Nam và nước ngoài. Đụng chạm là điều không tránh khỏi. Thoạt đầu, phía Úc đến Việt Nam chỉ có 2 người: chủ báo Nick Mountstephen và phóng viên Alex McKinnon. Tòa soạn VIR thuê tại khuôn viên của Thông tấn xã tại Sài Gòn. 

Bước đầu VIR xây dựng một nhóm phóng viên người Việt gồm Hoàng Ngọc Nguyên (đã từng viết cho Saigon Post trước 1975) và hai “tay ngang” Nguyễn Vạn Phú và Nguyễn Ngọc Chính. Trên thực tế, hai người được gọi là “tay ngang” vì chỉ là những người dậy tiếng Anh nhưng hoàn toàn chưa có kinh nghiệm làm báo, nhất là báo tiếng Anh.



Gặp gỡ Hershel Gober, Deputy Secretary of the US Department of Veteran Affairs, 1994.

Phương tiện làm việc khởi đầu là máy đánh chữ, máy Fax và một đường dây điện thoại của những năm đầu thập niên 90. Dần dà theo tiến bộ của ngành công nghệ thông tin, tòa soạn có hai máy vi tính Acer 286, dĩ nhiên là màn hình đen trắng. Chúng tôi phải “vật lộn” với hai chiếc máy “thần kỳ” này.

Computer là cả một thế giới bí ẩn. Thời đó, muốn học IT phải mất cả mấy chỉ vàng mỗi khóa nên chúng tôi tự mày mò với sự hỗ trợ của Alex, anh nhà báo người Úc “mặt búng ra sữa”. Thuận lợi duy nhất trong việc học vi tính là vốn liếng tiếng Anh đã giúp rất nhiều trong việc “tự học”.

Máy vi tính thời đó chưa có ổ cứng, muốn khởi động phải dùng “ổ đĩa mềm” chạy chương trình MS-DOS. Khi viết bài lại phải dùng chương trình Word Perfect 5.1 và khi máy trở chứng thì chỉ còn biết… “tắt đèn làm lại”. Công nghệ hiện đại được học hỏi như vậy đó. Nói cho ngay, vẫn còn “sướng” hơn ngồi gõ máy đánh chữ.    

Yêu cầu đặt ra của VIR là phóng viên phải viết bài trực tiếp bằng tiếng Anh chứ không được dịch từ những bài báo tiếng Việt. Đó cũng là một hình thức luyện tập tay nghề vì sau mỗi bài viết sẽ phải qua “kiểm duyệt” của Alex. Niềm vui thầm kín của những người làm báo tiếng Anh là những bài bị sửa rất ít để sẵn sàng để lên báo.

Tôi gia nhập VIR khi sau khi báo ra được 2 số, in tại nhà in Itaxa của Thông tấn xã. Đến số thứ 3 thay vì in tại Sài Gòn lại có lệnh phải in tại Hà Nội. Đó là trục trặc kỹ thuật đầu tiên của tờ báo. Một trong những lý do là Tổng Biên Tập ngồi tại thủ đô Hà Nội nên phía nước ngoài phải “cắn răng” chấp nhận.


Bài viết đầu tiên của Nguyễn Ngọc Chính trên VIR, số 3, ngày 28/10/1991.

Việc truyền bài vở từ Sài Gòn ra Hà Nội bằng máy Fax là cả một vấn đề nan giải. Hà Nội nhận bài lại phải đánh máy lại để Tổng Biên Tập “duyệt” rồi sau đó mới chuyển xuống nhà in Tiến Bộ. Công đoạn nhiêu khê này cuối cùng cũng được giải quyết nhờ việc sử dụng “modem”.

Modem thời đó cũng được truyền qua đường dây điện thoại nhưng để kết nối được hai đầu là một thủ tục nhiêu khê và ồn ào chứ không tự động như ngày nay. Hơn hai chục năm về trước, modem đã giúp chúng tôi rất nhiều trong việc chuyển bài từ Sài Gòn ra Hà Nội, tiết giảm thời gian, công sức và nhất là tránh được… “lỗi đánh máy” như khi gửi bằng Fax.

Tuy “hiện đại” nhưng cũng thật buồn cười. Chờ khi hai đầu điện thoại kết nối với nhau rồi bắt đầu đếm… “một, hai, ba…” để “enter”… thế là đường dây đàm thoại được chuyển qua đường tải dữ liệu giữa hai máy vi tính. Chưa hết, sau khi “enter”, modem phát ra tiếng “rè rè” và cuối cùng đổi sang “rít rít”. Thế là điện thoại chính thức bắt đầu truyền dữ liệu!

Nhắc đến điện thoại cũng phải nói thêm: khi điện thoại di động bước vào thị trường Việt Nam, phóng viên VIR được trang bị mỗi người một “cục gạch” để liên lạc mỗi khi “tác nghiệp”. Đó là những chiếc Motorola của Mỹ to gần bằng cục gạch thẻ mà ngày nay ta thường gọi là… “điện thoại cùi bắp”.


"Special! Embargo Lifted" năm 1994
(Phía sau lưng là Modem, ĐTDĐ Motorala, Modem và những hộp “đĩa mềm”)


Tôi còn nhớ, khi “rước” điện thoại di động về tòa soạn, Nick vừa bước vào phòng vừa nói qua điện thoại bàn: “Tôi đang đến chỗ các anh đây!”. Di động quả thật rất hữu hiệu nhưng cũng có khi không liên lạc được với nhau vì… “ngoài vùng phủ sóng”! Bây giờ ngồi viết lại chuyện xưa mà vẫn còn cảm thấy “cục gạch” Motorola cồm cộm trong túi quần!

Mấy bạn phóng viên của các báo tiếng Việt chắc cũng “gato” lắm nên mới có người gọi chúng tôi là… “Nhà báo Hoàng Gia”. Tuy nhiên, làm báo tiếng Anh đâu phải chuyện dễ vì người đọc là các nhà đầu tư nước ngoài, khó tính hơn người đọc báo Việt. Họ đòi hỏi phóng viên phải “Nhanh, Nhạy, Đúng và Trúng”. Bên cạnh đó còn có điều kiện tiên quyết là văn phong tiếng Anh trong mỗi bài báo.


Với các đồng sự VIR tại Hà Nội

Trước 1975 tôi học tiếng Anh theo trường phái “American English”, đến khi làm báo Úc vốn theo truyền thống “British English” nên phải cần thời gian để thích nghi cho phù hợp. Làm báo tiếng Anh trên đất Việt cũng là một vấn đề tương đối “nan giải”. Nhất là những chuyện thời sự mang tích cách “ý thức hệ”.

Ở Việt Nam không chấp nhận những thuật ngữ như “tư nhân hóa” hay “tư hữu hóa” nên khi viết đến chuyện này, người làm báo phải tránh dùng chữ “privatization” nếu không muốn bị cắt vì… “lưỡi kéo kiểm duyệt”. Việt Nam chỉ dùng từ ngữ “cổ phần hóa” nhưng kỳ thật đó là một hình thức “tư nhân hóa”, chẳng hạn như trong việc bán cổ phần của nhà nước trong một công ty quốc doanh.

Để giải quyết xung đột mang tính cách ngôn ngữ & ý thức hệ, VIR áp dụng một giải pháp mà tôi nghĩ là dung hòa được trong cách dùng ngôn ngữ báo chí. Từ ngữ “equitization” được dùng để thay thế bằng “privatization” vốn đã được dùng phổ biến trong báo chí Phương Tây.

Ta sẽ không gặp thuật ngữ “equitization” trong hầu hết các tự điển chính thống vì đó là mục từ… “sáng tạo”. Trong khi “equity” là danh từ, ám chỉ cổ phần hay vốn sở hữu nên “euquitization” là quá trình… cổ phần hóa. VIR đã thoát khỏi sự kiểm duyệt, tránh được việc dùng “privatization” vốn là một từ “dị ứng” với ý thức hệ chính trị!


Kỷ niệm 12 năm thành lập VIR tại Khách sạn Equatorial, Sài Gòn

Lại nói về chuyện “kiểm duyệt”. Tiếp xúc với một số nhà báo nước ngoài, tôi thường “bị” hỏi: “Báo chí Việt Nam có chế độ kiểm duyệt hay không?”. Câu trả lời của tôi lấp lửng giữa “Yes” “No”.

“No” vì Hiến pháp Việt Nam không hề nhắc đến hai chữ “kiểm duyệt” nhưng lại “Yes” vì các Tổng Biên Tập chính là quan chức kiểm duyệt của tờ báo do mình chịu trách nhiệm. Những quan chức đó là người của chính phủ nên phải tuân thủ đường lối và chính sách do chính phủ đề ra.

Chỉ khi nào có báo “tư nhân” mới không bị cái vòng kim cô đó siết chặt. Đó chính là lý do các quan chức thường dị ứng với từ ngữ “privatization”.

Just wait and see…

(Còn tiếp)


***
--> Read more..

Thứ Bảy, 12 tháng 8, 2017

Thăm bạn

Mấy hôm nay Sài Gòn đang bị ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới. Trời âm u với những cơn mưa rào, chợt đến rồi chợt tạnh một cách bất ngờ. Nhưng có lẽ bất ngờ hơn cả là đêm hôm qua có một cuộc điện thoại từ Mỹ, báo tin phu quân của cô bạn học đang nằm bệnh viện. Bạn phương xa cho biết tình trạng rất nguy kịch của anh chồng chị bạn.

Anh Quang ngày xưa là thiếu tá, vừa lên lon Trung tá nhưng chưa kịp “rửa lon” thì biến cố 1975 ập đến. Chị vốn là một học sinh trường Trung học Ban Mê Thuột nhưng lại giã từ tuổi học trò rất sớm để lập gia đình với anh. Chị rất “điệu đà” và có vẻ người lớn hơn tất cả bọn học sinh chúng tôi khi đó còn “ngờ nghệch”. Thế là chị giã từ tuổi thơ để làm vợ, rồi làm mẹ.

Điều chúng tôi nhớ mãi cho đến ngày hôm nay là giọng hát học trò của chị. Nổi bật nhất là bài “Tôi yêu” của Trịnh Hưng:

“Tôi yêu quê tôi yêu lũy tre dài đẹp xinh,
Yêu con sông xanh dâng cát hoe vàng bên đình,
Yêu trăng buông lơi trên má cô nàng dệt tơ,
Và yêu cánh đồng vời xa ngàn tay đang dựng mùa hoa.

“Tôi yêu đơn sơ qua mái tranh nghèo mẹ quê,
Yêu duyên nên thơ trong tiếng khoan hò ước thề,
Yêu con đê xưa đưa lối qua chợ làng quê,
Và yêu mấy nhịp cầu tre là đây anh chờ em về.

“Kìa cùng đùa chơi trẻ thơ ca hát say đời,
Dù nghèo mà vui hỏi ai không hé môi cười,
Mưa nắng ơn trời luống cày thắm đẹp lúa ngời,
Xóm làng đón mùa chiêm mới,
Ấm no ấp ủ lòng tôi.

“Tôi yêu quê tôi yêu mãi bây giờ càng yêu,
Yêu chim bay qua mang đến tin mừng thái hòa,
Yêu anh yêu em yêu nước yêu trời gần xa,
Và yêu mối tình nở hoa… ngàn năm không hề phai nhòa...

Hình như là bài hát “Tôi yêu” đã vận vào chị… Chị yêu rất sớm khi đám nam sinh chúng tôi hầu như chẳng biết yêu là gì.

Chị là Như Mai… Chị như một nụ hoa mai với mái tóc đen, dài rất điệu… Tôi cùng một người bạn (anh Hưởng) hẹn nhau đến bệnh viện thăm anh Quang đang trong cơn bệnh ngặt nghèo. Địa chỉ và số điện thoại của chị được người bạn từ Mỹ nhắn về và tối hôm trước tôi có liên lạc với chị.

Chị nói không muốn làm phiền bạn bè cho nên dấu kín chuyện anh đau… nhưng tôi tình thật nói với chị là chúng tôi là nhóm làm sách và số tiền bán sách là quỹ tương trợ bạn học cũ tại trường Trung học Ban Mê Thuột và những cựu giảng viên trường Sinh ngữ Quân đội hiện còn sống tại Việt Nam.

Gần 9 giờ sáng hai đứa chúng tôi trực chỉ Bệnh viện Ung bướu Gia Định. Điện thoại báo trước và chị nói để cho con xuống đón tại cổng cấp cứu đường Ngô Quyền. Lần đầu tiên đến đây tôi không thể hình dung được bệnh nhân và người thăm nuôi lại đông đến như vậy. Bệnh nhân và thân nhân, đa số là người ngoại tỉnh đổ về đây. Họ ngồi kín hành lang và trên cả cầu thang, thật tình mà nói còn đông hơn một cái chợ để chờ khám bệnh hay vào nuôi bệnh.

Chúng tôi tìm không ra đường Ngô Quyền nên hẹn đứng tại nhà thuốc bệnh viện đường Nơ Trang Long… Sau nhiều cuộc điện thoại chúng tôi mới hiểu ở Gia Định làm gì có đường Ngô Quyền và thông tin từ bên Mỹ lại cho lầm địa chỉ, thay vì Bệnh viện Pham Ngọc Thạch, quận 11, lại báo là Bệnh viện Ung bướu, Gia Định. Thế là hai “ông già” chở nhau lên đường từ Gia Định sang Quận 11. Trời lại đổ mưa…

Tới Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch tìm ngay được đường Ngô Quyền và con gái chị Như Mai đón sẵn. Bệnh viện PNT khác hẳn UB, khang trang, tĩnh lặng không có cảnh người nằm, ngồi la liệt. Chúng tôi gặp lại chị Như Mai sau gần một nửa thế kỷ. Anh Hưởng có gặp anh Quang và chị Như Mai gần đây nhưng tôi thì đã gần nửa đời người mới gặp lại người bạn thời học trò. Mừng mừng, tủi tủi…

Anh Quang nằm trên giường, tay đang truyền nước biển nhưng anh vẫn tỉnh táo và thỉnh thoảng góp lời vào câu chuyện của chúng tôi. Người anh xanh xao có lẽ vì bộ đồng phục màu xanh của bệnh viện. Chị Như Mai rơm rớm nước mắt trong câu chuyện…

Chúng tôi nhắc lại chuyện bài hát “tủ” của chị từ thời còn đi học cho bầu không khí bớt ảm đạm… “Tôi yêu quê tôi…” của Trịnh Hưng ngày nào.

Trước khi chia tay ra về, chúng tôi đưa chị chiếc phong bì với dòng chữ “Chúc anh mau bình phục – Nhóm bạn TH BMT”. Hai trăm Mỹ kim là tiền quỹ hỗ trợ bạn bè trong cơn hoạn nạn của nhóm làm sách. Của ít lòng nhiều…

Trời lại đổ mưa… Cơn mưa như mừng cho một chuyến thăm bạn, dù có trục trặc nhưng cuối cùng mọi sự cũng xuông xẻ. Một lần nữa “Chúc anh mau bình phục”.

***

* Lời cuối: Anh Quang, chồng chị đã ra đi chỉ sau vài ngày chúng tôi gặp tại bệnh viện. Vẫn biết cuộc đời này chỉ là “cõi tạm” nhưng làm sao không buồn cho người vợ và 4 đứa con còn ở lại?


***






***

--> Read more..

Thứ Ba, 1 tháng 8, 2017

Câu chuyện “văn chương” với ông bạn già

Bạn đọc chắc còn nhớ “Xóm Bến”… ông bạn già và cũng là sui gia mà tôi có dịp được nói đến qua các bài viết “Ôi! Cái văn chương!”“Viết tiếp về ông bạn già”.

Nhân một lần đàm đạo chuyện văn chương, tôi có dùng từ ngữ “thời điêu linh” để mô tả những năm tháng sau 1975. Ông bạn già hào hứng bình luận về cái thời kỳ, tạm gọi là “hậu-giải-phóng”, có nhiều chuyện để kể mà theo lời ông mỗi khi nghe lại chữ “điêu linh” bỗng thấy “nổi da gà”!

Người miền Nam thường biết đến thời điêu linh qua những cái tên lúc đó hãy còn xa lạ như kinh tế mới, đổi tiền, bao cấp, đốt sách, nhu yếu phẩm, cải tạo công thương nghiệp và dĩ nhiên phải nhắc đến chuyện cải tạo “ngụy quân, ngụy quyền”! Đó là những từ ngữ thường được nghe ở thành phố lớn như Sài Gòn nhưng theo ông Xóm Bến, ở nông thôn, thời điêu linh lại mang một sắc thái khác.

Ông bạn tôi dẫn chứng bằng truyện “Bản thông báo và ông quan xã” hay còn có một tựa đề ông đặt một cách ngắn gọn” “Chân dung một ông quan xã”. Ông đặt vấn đề:

“Có khi nào, bạn về miền Tây, trên cánh đồng, dưới dòng sông, những đêm trăng phủ đầy sương lạnh. Ngồi lai rai mà nghe hết câu vọng cổ chưa? Nhất là phần nói lối?”

Miền Tây gắn liền với 6 câu vọng cổ nhưng dù sao đi nữa trong thời điêu linh bức tranh toàn cảnh hoành tráng trong vọng cổ có những nét chấm phá với gam mầu tối, thật đau lòng mỗi khi nhớ lại.

“Trầm xuống và lặng đi như một nốt nhạc trầm của bản đại giao hưởng… Hình tượng thô thiển là sao lại có những con chuột ẩn mình trong biển lúa vàng bát ngát. Phải sửa và diệt nó đi thôi!”

***
Thế là câu chuyện “văn chương” bắt đầu bằng một thông báo của xã. Nguyên văn như sau:

“Thông báo!

“Chấp hành chủ trương dà (sic) chính sách của nhà nước. Quán triệt và chấp hành nghị quyết của tỉnh ủy và ủy ban nhân dân tỉnh. Thực hiện sự chỉ đạo thống nhất của huyện ủy dà ủy ban nhân dân huyện…
“Nay Đảng ủy dà ủy ban nhân dân thông báo dà ra lịnh cho nhân dân đồng bào trong xã biết.

“Một là: tất cả các hộ nông dân còn thiếu lúa thuế nông nghiệp dụ (sic) hè thu năm nay phải tích cực dao (sic) nạp vào kho.
“Hai là: lúa guộm (sic) phải thiệt sạch, không có bui bui (?) bông cỏ dới (sic) đủ thứ khác mới được nộp.
“Ba là: hạn chót để thu kỳ lúa guộm này là ngày… Nếu quá hạn hoặc không nộp đủ thì giao xã đội, công an đi cưỡng chế.

“Để hoàng (sic) thành xuất sắc nhiệm dụ (sic) trên giao, Đảng ủy, ủy ban nhân dân xã yêu cầu mội (sic) từng lớp nhân dân chấp hành chủ trương của xã.

“Đề nghị thi hành lệnh này liền.

“Nay thông báo.

“Chủ tịch xã

Đã ký và đóng dấu.
(hết trích)

***

Một nhân vật trong truyện phân tích về bản thông báo của xã:

“Đây là một nồi xà bần sau đám giỗ. Cái tay này phong kiến hổng ra phong kiến. Tề ngụy không ra tề ngụy. Cách mạng nửa mùa, mà lại nửa mùa ăn theo. Một cái thông báo mà đủ thứ lỗi chính tả. Văn thư không ra văn thư. Thông báo không ra thông báo.

- Một là: chữ nghĩa thì cái đầu là cách mạng, khúc giữa là điền chủ và khúc đuôi là tề ngụy. Sau khi xài hết ba cái chữ của cách mạng, vì hắn xài sang quá, ba bốn xôi nhồi một chõ nên đến khúc giữa bí quá vì hắn ăn theo cách mạng mà. Khúc giữa hắn sai, thay vì đề nghị chấp hành đường lối chính sách, thuế nông nghiệp, v.v… hắn lại tuôn ra nào là lúa ruộng mà chỉ có bọn điền chủ, phong kiến, tề ngụy mới xài.

- Hai là: một cái thông báo chỉ có nội dung kêu gọi các hộ nông dân chưa nộp đủ thuế hoặc chưa nộp thuế nông nghiệp phải tích cực thực hiện nghĩa vụ. Vậy mà hắn viện đủ cả bốn cấp chánh quyền như 4 ông cọp ra hù nhân dân. Mà đâu có riêng nông dân đâu, cả mọi tầng lớp nhân dân nữa mới ớn chớ.

“Cha mẹ ơi! Thầy cô giáo, mà ngay cả các quan xã như hắn thì làm gì có nghĩa vụ nộp thuế nông nghiệp, lại còn huy động cả xã đội, công an để đi cưỡng chế. Vậy mới oai chớ! Hổng biết thằng cha Hai D… chủ tịch khi ký và đóng dấu có đọc hay không, hay là cũng bù trất. Chỉ tội cho con dấu của xã đóng phía dưới.

(hết trích)

***
Sau khi “sưu tra lý lịch” của Chủ tịch xã, ông Xóm Bến, tác giả bài viết, cho biết về “thân thế” và “sự nghiệp” của người đã ký tên và đóng dấu bản thông báo như sau:

“Quá trình bản thân: còn nhỏ, đi học hết lớp ba trường làng. 20 tuổi đến 35 tuổi: là loong tong cho nhà việc, làm quản điền cho giáo Trĩ, làm quản điền cho huyện Nghĩa và làm trưởng ấp cho tề ngụy. Từ 30-4-1975 đến nay: làm thư ký xã, làm ủy viên kinh tế xã, phụ trách nông nghiệp.

“Nếu lấy trái dưa gang, mổ cộ, dựng ngược cuống lên, cặm vào hai chiếc đũa thì hình dung được hình hài gã. Đầu hớt cua, đỉnh đầu nhọn hoắc, hai lỗ tai ép sát vô hai gò má, phì phị búng ra mỡ dưới cái trán ngắn ngủn như dán vô cái đầu miếng kẹo da trâu. Miệng rộng toang hoác, mép này tới mép kia dính mang tai, hàm răng vàng ệch mầu nhựa thuốc rê.

“Hắc cao tới 1m50 cho nên cái thân mập ú nhìn như ngắn ngủn, được đặt trên hai cái chưn ốm nhách mà còn đi gọng kiềng nên lúc nào cũng lạch bạch như vịt xiêm mái. Trang bị bên ngoài cái thân dưa mổ cộ thì như con tắc kè, sáng màu xanh, trưa màu vàng, chiều màu đỏ, tối màu nâu. Nghĩa là vào thời điểm nào màu sắc đó.

“Trước kia, khi còn công tác với chế độ cũ, hắn lúc nào cũng xúng xính với bộ quần áo lính bảo an, rồi địa phương quân. Kể cả khi hắn qua làm trưởng ấp… Đầu hắn đội cái mũ vải rộng vành, chìa hai con mắt, nếu gỡ cặp kính màu ra thấy nó ti hí như hai con cuốn chiếu ở chân đống rơm đang nằm ngủ nhưng lại quên không cuốn.

“Sau này, khi hắn về phục vụ cách mạng, hắn lại nghiêm chỉnh với cái nón cối trên đầu, bộ đồ bộ đội màu xanh của rừng và đôi dép râu để lội trên đường làng. Và bây giờ, cả xã đều thấy hắn là cán bộ cách mạng từ đầu tới chân. Còn cái bụng hắn thì cách mạng cỡ nào chỉ có hắn và trời biết. May ra còn có thêm một người: vợ hắn! Bây giờ cũng ra vẻ vợ cán bộ lắm, thấy mà ham!

“Sở thích ăn uống: cứ nhìn hắn ăn với cái mâm dành cho hắn ở đám tiệc thì chết thôi cũng liên tưởng tới bức minh họa về bài học “Tân ăn giỗ” của quyển Quốc văn Giáo khoa thư. Thô bỉ cùng cực. Ngặt một nỗi món hắn thích toàn mỡ, thịt kho tàu phải hai phần mỡ một phần thịt nạc, Thịt hầm măng cũng vậy. Hắn cắn, nhai ngồm ngoàm, mỡ chảy tràn ra khóe miệng, nhểu xuống bàn. Hắn mặc kệ, bưng nguyên tô húp cái rột. Cúi xuống kéo lai quần lên chùi, ý chừng sợ dơ tay áo, dù ngay giữa đám tiệc.

“Vậy mà hắn là ông quan xã nắm tay hòm chìa khóa của ngân sách xã. Vậy mà hắn lên như diều, mà đố ai dám đụng tới hắn dù hắn lòi đuôi là tên cơ hội, đón gió trở cờ. Chỉ tội mấy anh cán bộ có lòng với bà con, tận tụy hy sinh hết lòng công tác để góp phần xây dựng quê hương đã đổ nát nhiều vì chinh chiến.

(hết trích)

***

Chuyện không chỉ có vậy. Thật ra đó chỉ là đoạn đầu nói về bản thông báo của ông quan xã. Đoạn kế tiếp tác giả dẫn người đọc đến hậu quả của bản thông báo. Một trong những nạn nhân của nó lại chính là tác giả, ông bạn già và cũng là sui gia với tôi. Nhân vật đó tự xưng là “lão”.

“Lão xỉn quắc cần câu, xuồng chìm tại bến. Gần sáng lão chống xuồng dìa. Mới thấy mặt, bà vợ đã cằn nhằn: ‘Thuế má đòi tới đít, hổng lo, lo ăn nhậu, thiệt hết biết ông, phen này chắc chết quá!’

Thì ra lão đã tính kỹ lắm rồi nên mới lai rai vài sợi. Bạn “nối khố” của lão góp ý: “Bận này câu kéo cũng trớt quớt, lũ cá út hình như thấy cái xứ mình nghèo quá, mà các quan của mình cũng khó quá, nên trốn biệt, không còn héo lánh tới nữa. Cái xuồng cũng bỏ không. Ông kéo lên, mua mấy kí dầu chai lắp dò lại. Kiếm thêm mấy nhánh mù u thiệt già cập vô mấy cây chèo, quơ một ít lưỡi hái rồi lên Đồng Tháp gặt mướn mươi bữa nửa tháng kiếm bậy vài chục giạ lúa về đóng thuế là khỏe ru bà rù. Thấy đã hôn?”

Tính thì dễ nhưng lúc thực hiện kế hoạch mới thấy trần ai. Riêng việc vắng mặt tại địa phương cả tháng cũng không dễ. Đi mà không xin giấy phép lỡ chính quyền hỏi thì ở nhà biết trả lời sao? Xin phép mà nói là đi gặt mướn cũng chẳng dễ gì vì quan bí thư xã rất “sĩ diện”. Có nghèo thì cũng ở nhà cạp đất mà ăn chứ đi làm thuê, gặt mướn thì mang tiếng dân Đồng Khởi lắm.

Cuối cùng xã không cho đi nên đành phải trốn. Lão lý luận: đi kiếm lúa về đóng thuế chớ có đi làm giặc đâu. Tới chừng có lúa mang về nạp bất qúa xã phạt năm ba bữa lao động hay chửi cho một trận chứ không lẽ nhốt vào tù? Mà có ở tù thì có cơm ăn… khỏi lo đói!

Cuộc hành trình đi gặt mướn được tác giả kể lại từng chi tiết như sau:

“Xuồng ra khỏi vàm Giòng Luông, qua được trạm kiểm soát, ráng chèo tới rạch Cả Bần. Lấy chiếc chiếu làm bườm rồi chạy vát qua cồn Ốc. Vậy là khỏe re – tới Sóc Sãi qua Cà Nứa, tới Vàm Mao là qua sông Hậu.

“Ôi sông Hàm Luông ơi, muôn đời ta gắn bó. Ôi Đồng Tháp ơi, hãy dành cỏ cho trâu ăn… Lão tức cảnh làm thơ. Lão và người bạn hẳn là hai con trâu đang đói. Qua hai đêm, một ngày xuồng của lão và hắn tới Tam Nông, lão kiếm chỗ đậu nấu cơm còn hắn lên bờ tìm mối gặt mướn.

“Đây là thửa thứ nhứt, 5 mẫu. Gặt hết bao nhiêu tính bầy nhiêu: 2 giạ một công tầm phóng, 1 giạ rưỡi một công tầm cắt. Cứ như vậy tính, chọn tầm nào. Hắn chọn tầm phóng. Không nói không rằng, ông chủ nâng cây sào vác theo – nhắm và phóng thẳng về phía trước. Cả bọn bước theo và cứ phóng đủ 5 công. Cắm sào, vậy thôi. Ai lo chuyện nấy. Chỉ giao ước một lời. Khỏi dài dòng.

***
Chuyện đi gặt mướn để lấy lúa về đóng thuế cứ tưởng là “ngon ăn” nhưng lại không ngờ… “khó nuốt”. Nhân vật chính của chúng ta bị bệnh hết 10 ngày trong chuỗi ngày đi gặt khiến người bạn “nối khố” phải “cà rỡn”:

“Sao, khoái làm dân Đồng Tháp hả? Định kiếm cớ nằm vạ chắc. Cái mặt của ông chỉ có bà vợ già của ông nó mê, chớ còn các bà Đồng Tháp miệng nói, tay làm, chân chạy… ai mà dám rước cái thây ông. Ông mà có gì, tui dập ông xuống. Ba ngày sau đỉa nó rỉa không còn miếng thịt. Thôi, dậy mà đi kiếm lúa về đong lúa ruộng, cha nội!

“Ngày thứ 11, để quen công việc, ông chủ ruộng cho lão đi gom lúa cho máy tuốt lúa ăn. Công việc nhẹ nhàng, cúi lên cúi xuống, đi tới đi lui chớ cắt lúa dễ bị chóng mặt, té nằm một đống, ai mà lo cho công tử nữa. Vậy đó, thương và kính biết bao nhiêu ở những tấm lòng”.

***

Đấy chưa phải là đoạn kết. Đoạn kết của ông Xóm Bến còn ly kỳ và bất ngờ đến độ người đọc cứ tưởng ông thêm mắm, thêm muối cho câu chuyện có vẻ “giật gân”. Ông nói với tôi, đây là kết cuộc mà chính ông cũng không tài nào “sáng tác” nổi. Tin hay không là quyền của người đọc nhưng bản thân tôi, tôi tin chắc chắn là ông kể hết sự thật.

“Hai mươi gia lúa được vô bao cột chặt, chất xuống xuồng trước một cuộc nhậu chia tay. Cuộc chia tay như những người ruột thịt nhớ nhau vì ở mỗi người một phương trời, về thăm nhau rồi lại ra đi.

“Ngoài vàm chỗ cặm cây cờ đó là Trạm. Sau trao đổi với các cán bộ Trạm và vẫy tay chào lão và hắn, ông chủ ruộng bơi xuồng trở lại. Ra khỏi vàm, ngoài lưu luyến còn thầm cảm phục cái ân cần, chu đáo khi tạo điều kiện để lão và hắn chở lúa qua trạm dễ dàng của ông chủ ruộng.

Nhưng phước bất trùng lai mà họa thì vô đơn chí, tránh vỏ dưa dẫm phải vỏ dừa khi xuồng bị bắt tại vàm Măng Thich – Vĩnh Long sau một ngày một đêm êm xuôi, trót lọt. Chúng ta đang đi vào đoạn kết mà ờ trên tôi đã nói là ly kỳ và bất ngờ.

“Không một biên bản, không một tờ giấy lộn. Với nét mặt đằng đằng sát khí, vị quan trưởng trạm chỉ phán một câu: ‘Buôn lậu, tịch thu. Chống cự giam ghe, nhốt người!’.

“Hai ông già với gương mặt xạm đen hốc hác. Ông thì nước mắt lưng tròng, ông thì cúi mặt bậm môi, nuốt nghẹn vào lòng. Vầy mà đi buôn lậu? Buôn lậu? Buôn lậu?

Với phương tiện là chiếc xuồng trống trơn, chỉ còn cái cà ròn làm bếp với 2 cái xoong nồi, 2 đôi đũa và 2 cái chén. Hai cái mền rách và một cái mùng. Với hai cái nóp cũ mèm và chiếc chiếu rách teng beng vì gió bọc thay buờm.

“Hai mươi giạ lúa mồ hôi, lẫn trong đó là bao nhọc nhằn, bao mơ ước nhỏ nhoi, thậm chí suýt mất một mạng người nơi xứ lạ. Để trả nợ nhà nước, để bảo toàn cho một kiếp người, một gia đình lâm vào cảnh quẫn bách.

“Khóc lớn đi, lão già thất cơ lỡ vận mà đường về xa lắc. Bặm môi mạnh nữa đi anh Năm Cà Nhõng, cho máu trào lên miệng, cho thấm đậm tủi hờn. Để máu và nước mắt sẽ rớt xuống, hòa vào giòng sông Cổ Chiên ra biển.

***

Chiều hôm đó xuồng của ông bạn tôi ghé mũi vào bến nhà. Má ông đang nằm trên võng, vợ con ông chắc đang ở ngoài giồng. Chiếc tủ thờ đã biến mất. Thấy con về tay không, má ông chắc cũng hiểu. Và đây là câu cuối cùng trong truyện:

“Nước mắt người Mẹ Việt Nam lại chảy dài sau bao nhiêu lần đã chảy”

***


--> Read more..

Thứ Ba, 25 tháng 7, 2017

Viết tiếp về ông bạn già

(Tiếp theo “Ôi… cái văn chương”)

Tôi đọc 5 tập sách đánh máy, một đống bản thảo viết tay trên vở học trò, cộng thêm cuốn băng ghi âm những sáng tác của ông bạn già… Ông phải ghi lại những gì ông viết vào điện thoại vì bản thảo của ông đã lên đến vài ngàn trang giấy viết tay.

Tôi gợi ý sao ông không mở một account trên Facebook để có một cầu nối với con cháu và bạn bè? Ông bạn già thật tình nhìn nhận là mình đã “lạc hậu”, chẳng biết một tí gì về IT và giờ thì đã quá muộn để bắt đầu học…

Bản thảo ghi âm cũng có cái hay của nó. Giống như ta nghe “đọc truyện trong đêm” và nhất là lại được nghe chính giọng của tác giả. Nhưng cũng có cái phiền là khi muốn bình luận về những gì ông bạn già viết thì phải “mổ băng”… Theo thuật ngữ của các nhà báo, “mổ băng” có nghĩa là nghe lại từng đoạn ghi âm rồi đánh lại trên máy vi tính. Công việc có phần nhiêu khê hơn thủ thuật “copy and paste” trên máy vi tính mà ta hay dùng ngày nay.

Năm tập bản thảo đánh máy của ông bạn già

Sáng tác của ông bạn già và cũng là sui gia của tôi gồm hai mảng chính: cả văn lẫn thơ. Nghe và đọc văn của ông khiến tôi nghĩ đến Lê Xuyên của ngày nào. Lê Xuyên, theo một số nhà phê bình văn học, là một trong tứ đại văn hào của miền sông nước Nam bộ, ba người khi là Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam và Hồ Hữu Tường.

Khác với Lê Xuyên, ông lấy bút hiệu rất chân chất: Xóm Bến! Văn của ông không pha chút sex như Lê Xuyên trong “Chú Tư Cầu”, không nang tính cách của vùng Đông Nam Bộ như trong “Đò dọc” của Bình Nguyên Lộc mà cũng chẳng nghiêng về sưu tầm khảo cứu như Sơn Nam hay Hồ Hữu Tường.

Văn của ông Xóm Bến “rặc” chất Nam bộ với những… “mèn ơi, chịu hông, trớt quớt, biết chết liền, ngồi chò hỏ, ôm xà nẹo, rành sáu câu, lăng xăng như gà mắc đẻ, chắc như ba bó bỏ vô một giạ…”. Ngay cả thơ cũng… “y chang” như hơi thở chân chất của vùng sông nước Cửu Long:

“A! Lão làm vườn, viết được thơ?!
Quanh năm, cầm cuốc với cầm gờ
Tay kéo tay dằm, tay xới đất
Tay nào cầm viết, để làm thơ?...”
(Trích từ bài thơ “Tơ tầm nghiệp dĩ” 
trong tập “Ta bước vào ta – Tuổi bảy mươi”)

Cũng trong tập thơ vừa dẫn, ta bắt gặp lối “hành thơ” của ông đồ Trần Tế Xương của miền đồng bằng Bắc bộ “quanh năm buôn bán ở ven sông…” nhưng thơ của ông Xóm Bến lại rặc chất Nam bộ. Chẳng hạn như bài “Lẩn thẩn”:

“Rủ rỉ, rù rì ta với ta
Cãi cọ, dang ca một mình hà
Lẩm bẩn, lầm bầm người đâu tá?
Mình nói mình nghe… ta với ta.

Lẩn thẩn, lần thân với tuổi già
Con cháu chung nhà, như ở xa
Quẩn quanh lên xuống thang lầu vắng
Lủi củi, lui cui quạnh quẽ nhà.

Sân trước tiêu điều, dăm chậu cảnh
Hè sau lặng lẽ có ai mà
Chỉ muốn có người cùng chia sẻ
Cảm thông chia sẻ lúc tuổi già”

Bản thảo viết tay của ông bạn già

Viết riêng cho tôi, ông tâm sự:

“Ai biểu ta là sui gia
Mà lại còn là đồng tuế
Ngẫm lại…
Cổ lai nhân thế
Chẳng đã bảo rằng:
Sui gia ngày càng gần..
Họ hàng rồi sẽ rời xa…”

Thơ riêng cho tội

Tôi chợt nghĩ đến hiện tượng “một ngôi sao đang lên và sắp xuống”.

Xóm Bến tựa như một ánh sao lẻ loi xuất hiện một cách leo lét trên bầu trời đêm của văn học. Ánh sao đó mờ nhạt nhưng nếu có dịp đến gần ta bỗng thấy nó lóe lên một thứ ánh sáng cô đơn để rồi sau đó chợt tắt giữa muôn vàn vì sao trên trời.

Tôi nói như vậy không phải vì tác giả là ông bạn “đồng tuế” hay vì là “sui gia” với tôi. Tôi chỉ đơn giản chợt phát hiện ở ông một tâm hồn thơ văn bình dân nhưng giàu cảm xúc. Một tiếng nói cô đơn giữa một rừng người. Chỉ đơn giản vậy thôi!

***

* Hẹn các bạn một dịp khác sẽ tiếp tục viết về ông bạn già của tôi.


***
--> Read more..

Thứ Ba, 18 tháng 7, 2017

Ôi... cái văn chương!


Ông bạn già “đồng tuế” và cũng là “sui gia” với tôi đã có lời than như trên mà tôi chọn là tiêu đề cho bài viết này. Ông tâm sự:

“… Cả mấy tháng nay Lão cứ chập chờn giấc ngủ, ăn thì cứ như một ngày ăn một bữa, ăn vội ăn vàng một chén cơm là đủ, là thôi. Mắc cái chứng gì đâu á! Có gì đâu, Lão bắt đầu mê viết. Mà cái viết của Lão cũng ngộ. Lão viết lung tung không có chủ đề gì ráo trọi. Nghĩ gì viết nấy, cứ lộn xộn. Nội dung chỉ quanh đi quẩn lại mấy cái chuyện đầu hồi tám hoánh, hồi Lão đâu chừng 5-6 tuổi ở dưới quê của Lão, một vùng quê xa lắc, nghèo xơ xác và buồn hiu…”

Kỷ niệm thời thơ ấu của ông bạn tôi thật đơn sơ, hồn nhiên như bao đứa trẻ khác : “… Vậy mà Lão cũng nhớ được, nhớ như in, như đang chơi đánh u, búng giây thun, bắn culi với mấy đứa cùng xóm…” .

***

Ông bạn tôi dẫn người đọc đến tuổi thành niên trên bước đường đời:

“Rồi dọc đường Lão đi, dài theo mấy chục năm cuộc đời Lão  - cho tới bây giờ - Lão viết mà như đang kể chuyện, không hoa hòe hoa sói, không văn chương trao chuốt. Câu văn, câu chữ cứ ừ è, như một ông lão đang ngồi với mấy đứa cháu – kể chuyện cho mấy đứa nghe vậy – nghe mà phát chán.

“Ai đời văn chương phải lưu loát, bay bổng, hàm xúc và mạch lạc, nhất là phải hư cấu một chút cho nó đậm đà hương vị. Đằng này, nó cứ y như là khúc cây còn đầy đủ cái u mầm, cái vỏ, nhánh nhóc, quăng lăn lóc ở ngoài hè – ai có lượm lên để săm soi – để coi bên trong, từ cái bên ngoài thô mộc xù xì đó có cái lõi nào tốt mà xài được không.

“Buồn ghê! Bất quá, có lúc nào đó, có một người nào đó, nà tự nhiên thiếu củi chụm, lượm vô, chẻ ra mới thấy. Á, khúc cây này cái lõi chắc quá, đỏ ao, phải biết vậy – cưa, đục, đẽo, bào, đóng bậy cái ghế ngồi cũng được lắm. Nhưng lỡ chẻ vụ ra rồi, đang thiếu củi nên chụm luôn cho rồi”.

Và ông kết luận: 

“Vậy đó, không đóng được đồ xài, thì làm củi chụm, cũng được việc”.

***

Ông bạn tôi ơi, văn chương là vậy đó! Cứ viết những gì mình nghĩ. Những gì mình sống. Những gì mình thấy được trong suốt cuộc hành trình cuộc đời. Tuổi càng cao thì càng có nhiều chuyện để viết. Mình không phải là nhà văn nhưng không ai cấm mình viết.

Xem ra viết là cách tốt nhất để giải tỏa những suy nghĩ của mình khi về già. Viết để con cháu chia sẻ những điều mình dấu kín trong lòng. Viết cũng để vài người bạn (chỉ cần vài người thôi) đọc và hiểu những gì mình nghĩ. Trong số đó có tôi nữa, ông bạn già!

***


Một số trò chơi tuổi thơ ngày xưa

Tuổi thơ hồn nhiên


Búng thung


Bắn bi


Tạt lon


Đá banh bàn


Bắn súng


Bắn đạn


Đánh vòng bánh xe


Nhảy lò cò


Nhảy dây


Nhảy cao


Nhảy thung


Chồng hoa, chồng nụ


Đánh chuyền


Rải gianh


Ô ăn quan


***
















--> Read more..

Thứ Tư, 12 tháng 7, 2017

Bãi biển Đà Nẵng nhìn từ khu Funama Resort

Furama Group đầu tư vào các resorts ở Đà Nẵng khá bài bản. Điển hình là cụm biệt thự Furama Villas trong đó được mang tên các khu như Pearl, Sapphire, Diamond và Ruby.

Mỗi căn biệt thự thường có 3 phòng ngủ, 2 tầng lầu và một hồ bơi với đầy đủ tiện nghi cho cả một gia đình sinh hoạt trong suốt thời gian du lịch tại Đà Nẵng. Việc đi lại trong khu resort do một hệ thống xe điện (buggy) nội bộ của Furama cung cấp miễn phí.

Hôm 25/6/2017 chúng tôi di chuyển từ tòa nhà Azura nhìn xuống cầu sông Hàn để đến Furama Villas ngay bờ biển để các cháu nội ngoại được dịp thỏa thê vui đùa với sóng biển vào sáng sớm cũng như chiều mát hoặc buổi trưa bên hồ bơi trong nhà.


Những ngày nghỉ hè thật thoải mái, nhất là các cháu vừa qua giai đoạn thi cử căng thẳng. Dưới đây là một số hình ảnh kỷ niệm về Đà Nẵng mùa hè 2017 và cũng là một kỷ niệm đoàn tụ của 3 thế hệ trong một đại gia đình.










































***
--> Read more..

Popular posts