Thứ Tư, 27 tháng 4, 2016

TT Nguyễn Văn Thiệu trả lời phỏng vấn báo Der Spiegel về cuốn hồi ký của Henry Kissinger

* Lời giới thiệu của NNC:

Dưới đây là nội dung cuộc phỏng vấn của tuần báo “Der Spiegel” (số 50, ngày 10/12/1979, xuất bản tại Hamburg, Đức) với cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu về cuốn hồi ký của Henry Kissinger. Có thể coi đây là tài liệu lịch sử quan trọng nhất của TT Thiệu, vì kể từ khi sống lưu vong cho đến ngày qua đời (29/9/2001 tại Trung tâm Y tế Beth Israel Deaconess Medical Center tại Boston, Massachusetts, Hoa Kỳ), ông rất ít xuất hiện trên báo chí.

Lý do ông chọn để báo “Der Spiegel” phỏng vấn vào ngày 1/12/1979 tại Anh quốc vì đây là tờ báo nổi tiếng của Đức mà nước Đức lại là quê hương của Kissinger. Một số người Mỹ sau này gán cho Kissinger là một kẻ “Tội phạm Chiến tranh” (War Criminal). Đối với một số người Việt tại miền Nam, Kissinger chính là một trong những thủ phạm dẫn đến ngày Sài Gòn sụp đổ, 30/4/1975.

Chỉ vài tuần sau khi bài phỏng vấn xuất hiện trên tờ “Der Spiegel”, Kissinger đã gửi cho TT Thiệu một lá thư riêng (không đề ngày) với lời lẽ rất nhã nhặn để trình bày sự việc trong cuốn hồi ký. Bức thư có đoạn viết:

“Tôi có thể hiểu được sự cay đắng của ngài… Cuốn sách của tôi không ngớt lời ca tụng lòng can đảm và tư cách của ngài… Tôi không trông đợi thuyết phục được ngài nhưng ít nhất tôi có thể tin tưởng rằng lòng hối hận và kính trọng ngài vẫn còn trong tôi.

“Với những lời chúc tốt đẹp nhất.

Henry Kissinger”  

* Bản dịch bài phỏng vấn dưới đây từ tiếng Đức sang tiếng Việt do nhà văn Phạm Thi Hoài thực hiện. Hình ảnh trong bài được sưu tầm trên mạng. Bạn đọc có thể tham khảo nguyên bản tiếng Đức tại http://www.spiegel.de/spiegel/print/d-39685817.html

* Tham khảo thêm: “Tâm tư của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu”, bản dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt bài phỏng vấn của “Der Spiegel”: https://www.youtube.com/watch?v=f6sSnZQMTwk&list=PLCM0uD_9jBHMmLcpPW0m--gGPjaSBc5Vx


Tuần báo “Der Spiegel”

Spiegel: “Thưa ông Thiệu, từ 1968 đến 1973 Hoa Kỳ đã nỗ lực thương lượng hòa bình cho Việt Nam. Trong cuốn hồi ký của mình, ông Henry Kissinger, trưởng phái đoàn đàm phán Hoa Kỳ đã dùng nhiều trang để miêu tả việc ông, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, đã chống lại những nỗ lực nhằm đem lại hòa bình cho một cuộc chiến đã kéo dài nhiều năm, với hàng triệu nạn nhân và dường như là một cuộc chiến để "bóp nát trái tim Hoa Kỳ". Vì sao ông lại cản trở như vậy?”

Nguyễn Văn Thiệu: Nói thế là tuyệt đối vô nghĩa. Nếu tôi cản trở thì đã không có Hiệp định Hòa bình năm 1973 – mặc dù, như ai cũng biết, đó không phải là một nền hòa bình tốt đẹp; hậu quả của nó ở Việt Nam là chứng chỉ rõ ràng nhất. Kissinger đại diện cho chính sách và lợi ích của chính phủ Mỹ. Là Tổng thống Nam Việt Nam, bổn phận của tôi là bảo vệ những lợi ích sống còn của đất nước tôi.

Tôi đã nhiều lần chỉ ra cho Tổng thống Nixon và TS Kissinger rằng, đối với một cường quốc như Hoa Kỳ thì việc từ bỏ một số vị trí không mấy quan trọng ở một quốc gia bé nhỏ như Nam Việt Nam không có gì đáng kể. Nhưng với chúng tôi, đó là vấn đề sinh tử của cả một dân tộc.

***

Spiegel: “Kissinger không phủ nhận rằng cuối cùng ông cũng đồng ý. Nhưng ông ấy cũng nói rằng phải đàm phán lâu như vậy vì ông cản trở nhiều, rằng ông đồng ý với các đề xuất của Mỹ chỉ vì ông chắc mẩm rằng đằng nào thì Hà Nội cũng sẽ bác bỏ.”

Nguyễn Văn Thiệu: Không đúng như vậy. Để chấm dứt một cuộc chiến tranh đã kéo dài gần 30 năm, người ta cần nhiều thời gian hơn là hai, ba ngày hay hai, ba tháng. Tôi hiểu rõ rằng đối với người Mỹ đã đến giúp chúng tôi, đây là cuộc chiến dài nhất trong lịch sử của họ. Có lẽ vì thế mà họ vội vã như vậy. Nhưng điều chúng tôi cần là một nền hòa bình lâu dài.

***

Spiegel: “Kissinger có ý cho rằng ông không thực sự muốn ký kết một thỏa thuận về hòa bình, đúng ra ông ngầm mong phía miền Bắc cũng sẽ cứng đầu như ông. Kissinger viết rằng ông đồng ý với nhiều đề xuất từ phía Mỹ - trong tinh thần sẵn sàng không tuân thủ, chỉ vì trong thâm tâm ông không tin rằng hòa bình sẽ được ký kết. Có phải là trong khi đàm phán, ông đã bịp, với hy vọng là sẽ không bao giờ phải ngửa bài lên?”

Nguyễn Văn Thiệu: Không. Sao lại có thể nói là một dân tộc đã chịu đựng bao nhiêu đau khổ suốt 30 năm lại muốn kéo dài cuộc chiến? Kissinger muốn xúc tiến thật nhanh mọi việc để Mỹ có thể rút quân và tù binh Mỹ được thả. Mà có lẽ mục đích của chính phủ Mỹ cũng là cao chạy xa bay. Họ thì có thể bỏ chạy. Nhưng chúng tôi thì phải ở lại Nam Việt Nam.

Chúng tôi có quyền chính đáng để đòi hỏi một hiệp định hòa bình toàn diện. Không phải là vài ba năm hòa bình, rồi sau đó lại 30 năm chiến tranh.

***

Spiegel: “Vậy tại sao ông lại đi trước cả người Mỹ và tự đề nghị Hoa Kỳ rút quân trong cuộc họp tại đảo Midway ở Thái Bình Dương tháng Sáu 1969, theo tường thuật của Kissinger?”

Nguyễn Văn Thiệu: Trước khi họp ở Midway, việc chính phủ Mỹ dự định rút quân đã không còn là điều bí mật. Cho phép tôi nhắc để các ông nhớ lại, tin tức về việc Mỹ sẽ rút một số quân đã loan khắp thế giới, trước cuộc họp ở Midway. Vì sao? Theo tôi, chính phủ Mỹ muốn thả bóng thăm dò, tiết lộ thông tin trước cho báo chí và đẩy chúng tôi vào sự đã rồi.

***

Spiegel: Tức là ông đã nắm được tình hình?

Nguyễn Văn Thiệu: Đúng thế. Cuộc họp ở Midway nhằm hai mục đích. Thứ nhất, cho hai vị tân tổng thống cơ hội làm quen và bàn về đề tài Việt Nam. Điểm thứ hai đã vạch rất rõ là bàn về việc rút những toán quân Mỹ đầu tiên. Tôi đã không hình dung sai điều gì và đã làm chủ tình thế. Không có gì phải lo lắng, và tôi đã rất vững tâm.

***

Spiegel: “Khi đề xuất Mỹ rút quân, ông có thật sự tin rằng Nam Việt Nam có thể chiến đấu một mình và cuối cùng sẽ chiến thắng trong một cuộc chiến mà hơn 540.000 lính Mỹ cùng toàn bộ guồng máy quân sự khổng lồ của Hoa Kỳ không thắng nổi không? Chuyện đó khó tin lắm.”

Nguyễn Văn Thiệu: Không, đề xuất đó không phải của tôi. Tôi chỉ chấp thuận. Tôi chấp thuận đợt rút quân đầu tiên của Mỹ, vì Tổng thống Nixon bảo tôi là ông ấy gặp khó khăn trong đối nội và việc rút quân chỉ mang tính tượng trưng. Ông ấy cần sự ủng hộ của dư luận và của Quốc hội. Nhưng tôi cũng bảo ông ấy rằng: Ông phải chắc chắn rằng Hà Nội không coi việc bắt đầu rút quân đó là dấu hiệu suy yếu của Hoa Kỳ.

***

Spiegel: Và ông không nghĩ đó là khởi đầu của việc rút quân toàn bộ?

Nguyễn Văn Thiệu: Không. Tôi đã hình dung được rằng, đó là bước đầu tiên để cắt giảm quân số. Nhưng không bao giờ tôi có thể nghĩ Mỹ sẽ rút hẳn và bỏ rơi Nam Việt Nam. Tôi đã trình bày với Tổng thống Nixon rằng việc cắt giảm quân số sẽ phải tiến hành từng bước, như khả năng chiến đấu và việc tiếp tục củng cố Quân lực Việt Nam Cộng hòa cho phép – tương ứng với những viện trợ quân sự và kinh tế có thể giúp Nam Việt Nam tự đứng trên đôi chân của mình.

Quan trọng hơn, tôi đã bảo ông ấy phải yêu cầu Hà Nội có một hành động tương ứng đáp lại. Phía Mỹ đồng ý với tôi ở mọi điểm; về một sự rút quân từng bước và của cả hai phía...

***

Spiegel: ... và mang tính tượng trưng?”

Nguyễn Văn Thiệu: Tôi hiểu rõ rằng cuộc chiến ở Việt Nam cũng là một vấn đề đối nội của Hoa Kỳ. Và Tổng thống Nixon giải thích rằng ông ấy cần một cử chỉ tượng trưng để giải quyết vấn đề đó. Trước đó một tuần tôi đến Seoul và Đài Loan, tôi đã nói với Tổng thống Park Chung Hee và Tổng thống Tưởng Giới Thạch rằng tôi hy vọng việc rút quân sắp bàn với Tổng thống Nixon ở Midway chỉ là một sự cắt giảm quân số mang tính tượng trưng. Song tôi cũng lưu ý rằng nếu Hoa Kỳ muốn rút hẳn thì chúng tôi cũng không thể ngăn cản. Vậy thì đề nghị họ rút quân từng bước, đồng thời viện trợ để củng cố một quân đội Nam Việt Nam hùng mạnh và hiện đại, có thể thay thế người Mỹ, sẽ là hợp lý hơn. Không bao giờ tôi đặt giả thiết là lính Mỹ sẽ ở lại Việt Nam vĩnh viễn.

***

Spiegel: Mỹ vẫn đóng quân ở Hàn Quốc và Tây Đức mà.

Nguyễn Văn Thiệu: Nhưng chúng tôi là một dân tộc rất kiêu hãnh. Chúng tôi bảo họ rằng, chúng tôi cần vũ khí và viện trợ, nhưng nhiệt huyết và tính mạng thì chúng tôi không thiếu.

***

Spiegel: Ông đánh giá thế nào về tình thế của ông khi ấy? Vài tháng trước đó, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Melvin Laird vừa đưa ra một khái niệm mới: "Việt Nam hóa chiến tranh". Trước đây người Mỹ chỉ nói đến việc "phi Mỹ hóa" cuộc chiến. Cái khái niệm mới ấy đã thể hiện rõ dự định rút khá nhanh của người Mỹ rồi, đúng không?

Nguyễn Văn Thiệu: Khi đến Sài Gòn vào tháng Bảy 1969, ông Nixon đã nhắc lại rằng ông ấy cần được sự hậu thuẫn của dư luận trong nước Mỹ. Tôi hiểu ông ấy. Nhưng ông ấy không hề tuyên bố rằng việc rút quân là một lịch trình mang tính hệ thống do sáng kiến của Mỹ. Ông ấy chỉ nói với tôi về những khó khăn trong nước, ở Mỹ, và đề nghị tôi giúp. Ông ấy bảo: "Hãy giúp chúng tôi giúp ông." Tôi đáp: "Tôi giúp ông giúp chúng tôi." Trong lần họp mặt đó, chúng tôi lại tiếp tục bàn về việc rút quân từng bước.

***

Spiegel: “Nhưng không đưa ra một lịch trình cụ thể?”

Nguyễn Văn Thiệu: Không. Và ông Nixon lại hứa rằng việc rút quân của Mỹ sẽ phải đi đôi với những hành động tương ứng của Bắc Việt và phải phù hợp với khả năng phòng thủ của Nam Việt Nam cũng như phải phù hợp với việc Mỹ tiếp tục viện trợ quân sự và kinh tế cho Nam Việt Nam.

***

Spiegel: “Ở thời điểm đó ông có nhận ra rằng nếu thấy cần thì Mỹ cũng sẽ sẵn sàng đơn phương rút quân không?”

Nguyễn Văn Thiệu: Có, tôi đã ngờ. Nhưng lúc đó tôi vẫn rất vững tâm và tin tưởng vào đồng minh lớn của chúng tôi.

***

Spiegel: Có lẽ ông tin thế là phải. Cuốn hồi ký của Kissinger cho thấy khá rõ rằng chính phủ Nixon không thể dễ dàng "đình chỉ một dự án liên quan đến hai chính phủ, năm quốc gia đồng minh và đã khiến 31,000 người Mỹ phải bỏ mạng, như thể ta đơn giản chuyển sang một kênh TV khác."

Rõ ràng là người Mỹ muốn thoát khỏi Việt Nam bằng con đường đàm phán. Chỉ trong trường hợp cần thiết họ mới muốn đơn phương rút quân. Ông có đưa ra yêu sách nào liên quan đến những cuộc thương lượng giữa Washington và Hà Nội không?

Nguyễn Văn Thiệu: Chúng tôi đã chán ngấy chiến tranh và quyết tâm chấm dứt nó qua đàm phán. Chúng tôi yêu cầu những kẻ xâm lăng đã tràn vào đất nước của chúng tôi phải rút đi. Tất cả chỉ có vậy.

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu

Spiegel: “Ông đã oán trách rằng sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam năm 1975 chủ yếu là do sau Hiệp định Paris, miền Bắc vẫn được phép đóng quân tại miền Nam. Ông khẳng định rằng mình chỉ chấp nhận sự hiện diện đó của miền Bắc trong quá trình đàm phán, còn sau khi ký kết thì Hà Nội phải rút quân.

Nhưng Kissinger lại khẳng định trong hồi ký rằng ông thừa biết việc Hà Nội sẽ tiếp tục trụ lại ở miền Nam, và cho đến tận tháng Mười 1972 ông cũng không hề phản đối những đề xuất của phía Mỹ liên quan đến điểm này.

Nguyễn Văn Thiệu: Đó là một lời nói dối hết sức vô giáo dục của Kissinger, rằng tôi chấp thuận cho quân đội Bắc Việt ở lại miền Nam. Nếu ngay từ đầu tôi đã chấp thuận như Kissinger nói thì lúc ông ấy cho tôi xem bản dự thảo, trong đó không có điều khoản nào về việc rút quân của Bắc Việt, tôi đã chẳng phản đối quyết liệt như thế.

Điểm then chốt nhất mà tôi dốc sức bảo vệ, từ đầu cho đến khi kết thúc đàm phán, chính là yêu cầu Hà Nội phải rút quân. Tôi đã tuyên bố rõ với Kissinger là nếu không đạt được điều đó thì không có ký kết.

Sau nhiều ngày tranh luận gay gắt, cuối cùng ông ta bảo: "Thưa Tổng thống, điều đó là không thể được. Nếu được thì tôi đã làm rồi. Vấn đề này đã đặt ra ba năm trước, nhưng phía Liên Xô không chấp nhận." Tôi hiểu ra rằng chính phủ Mỹ đã nhượng bộ trước yêu sách của Liên Xô, và đó là nỗi thất vọng lớn nhất của tôi.

***

Spiegel: “Có lẽ Liên Xô không thể làm khác, vì Hà Nội không chấp nhận coi Nam Việt Nam là một quốc gia khác, và một thời gian dài họ còn phủ nhận việc họ đã đưa quân đội chính quy vào miền Nam.”

Nguyễn Văn Thiệu: Chúng tôi đã chiến đấu hơn 20 năm và học được rằng, đừng bao giờ tin lời Nga Xô và Hà Nội. Bắc Việt đóng quân ở cả Lào, Campuchia và Nam Việt Nam, tôi tin rằng một người mù cũng nhìn ra điều đó. Muốn chấm dứt chiến tranh thì chúng ta phải nhìn vào hiện thực chứ không thể chỉ nghe lời kẻ địch.

***

Spiegel: “Ông có lập luận như thế với Kissinger không?”

Nguyễn Văn Thiệu: Tất nhiên, và với cả Tướng Haig nữa. Tôi bảo ông ấy thế này: "Ông Haig, ông là tướng, tôi là tướng. Ông có biết một hiệp định hòa bình nào trong lịch sử lại cho phép kẻ xâm lăng tiếp tục đóng quân tại lãnh thổ mà nó xâm lược không? Ông có cho phép Liên Xô vào Hoa Kỳ đóng quân rồi tuyên bố rằng ông đã ký kết thành công một hiệp định hòa bình với Liên Xô không?"

***

Spiegel: “Ông ấy trả lời sao?”

Nguyễn Văn Thiệu: Ông ấy không trả lời được. Mà trả lời thế nào cơ chứ, chuyện đó hoàn toàn vô lý. Còn gì mà nói nữa.

***

Spiegel: “Nhưng Kissinger thì có câu trả lời trong hồi ký. Ông ấy viết rằng khó mà bắt Hà Nội rút quân, vì họ hoàn toàn không sẵn sàng từ bỏ trên bàn đàm phán những thứ mà họ không mất trên chiến trường. Nhưng ông ấy cũng nói rằng trong Hiệp định Paris có một điều khoản không cho phép xâm lấn. Ông ấy đi đến kết luận rằng "lực lượng miền Bắc sẽ tự nhiên tiêu hao sinh lực và dần dần biến mất."

Nguyễn Văn Thiệu: Tôi thấy chính phủ Mỹ và đặc biệt là TS Kissinger không hề rút ra được bài học nào khi phải đàm phán với cộng sản, sau những kinh nghiệm đau thương năm 1954 giữa Pháp và cộng sản Việt Nam và từ Chiến tranh Triều Tiên. Họ cũng không học được gì từ những cuộc đàm phán về Lào và Campuchia và cũng không nắm bắt được là nên xử sự thế nào với cộng sản và cần phải hiểu chiến lược và chiến thuật của cộng sản ra sao.

Tức là ta lại phải trở về với vấn đề rằng, vì sao TS Kissinger, người đại diện cho một quốc gia lớn và tự cho mình là nhà thương thuyết giỏi giang nhất, lại có thể tin rằng quân Bắc Việt đóng tại miền Nam sẽ không xâm lấn. Sao ông ấy có thể tin như vậy cơ chứ?

Ông ấy đủ sức kiểm soát từng tấc đất trên biên giới của Campuchia, và của Lào, và của Nam Việt Nam à? Dù có cả triệu nhân viên quốc tế giám sát, chúng tôi cũng không bao giờ có thể khẳng định là đã có đủ bằng chứng rằng không có xâm lấn. Sao ông ấy lại có thể tin những gì Bắc Việt nói. Ông ấy có thể tin lời cộng sản, nhưng chúng tôi thì không. Vì thế mà tôi đã cương quyết đòi Bắc Việt phải rút quân. Nếu họ thực sự muốn hòa bình thì họ ở lại miền Nam làm gì?

***

Spiegel: “Vậy Kissinger nói sao?”

Nguyễn Văn Thiệu: Còn nói gì được nữa? Ông ấy và chính phủ Mỹ chỉ muốn chính xác có một điều: rút khỏi Việt Nam càng sớm càng tốt và đảm bảo việc trao trả tù binh Mỹ. Họ bảo chúng tôi là họ mong muốn một giải pháp trong danh dự, nhưng sự thực thì họ chỉ muốn bỏ của chạy lấy người. Nhưng họ lại không muốn bị người Việt và cả thế giới kết tội là đã bỏ rơi chúng tôi. Đó là thế kẹt của họ.

“Bon Voyage” (1973)

Spiegel: “Kissinger viết rằng, ngay sau Chiến dịch Xuân-Hè 1972 của Hà Nội, các bên dường như đã đổi vai. Hà Nội đột nhiên muốn đàm phán trở lại, còn Sài Gòn thì muốn đánh cho đến khi giành toàn thắng.”

Nguyễn Văn Thiệu: Hoàn toàn vô nghĩa! Ông TS Kissinger hiểu thế nào là chiến thắng? Bắc Việt đã đem chiến tranh vào miền Nam. Chúng tôi yêu cầu họ phải rút quân. Thế là chiến thắng hay sao? Tôi chưa bao giờ yêu cầu Bắc Việt tự coi mình là tù binh của miền Nam. Tôi chưa bao giờ yêu cầu Bắc Việt bồi thường cho tổn thất chiến tranh. Tôi chưa bao giờ đòi hỏi Bắc Việt giao nộp lãnh thổ. Tôi chưa bao giờ đòi có chân trong chính phủ ở Hà Nội. Vậy ông Kissinger hiểu thế nào về chiến thắng và toàn thắng?

***

Spiegel: “Về vấn đề rút quân của miền Bắc, 31 tháng Năm 1971 là một ngày quan trọng. Kissinger cho biết là khi đó, trong các cuộc họp kín, Mỹ đã đưa ra yêu cầu hai bên cùng rút quân. Trong hồi ký, ít nhất ba lần TS Kissinger viết rằng không những ông được thông báo trước, mà ông còn chấp thuận”.

Nguyễn Văn Thiệu: Tôi không bao giờ chấp thuận việc rút quân đơn phương. Từ cuộc họp ở Midway, tôi luôn luôn yêu cầu rút quân từng bước và cả hai bên cùng rút. Hoa Kỳ đã thay đổi lập trường và tìm cách ép chúng tôi, với những chiến thuật mà họ thường sử dụng, bằng cách huơ thanh gươm Damocles trên đầu tôi, chẳng hạn họ đem công luận Mỹ ra đe tôi, họ bảo: "Hình ảnh của ông tại Hoa Kỳ hiện nay rất tồi tệ!" Hoặc: "Quốc hội muốn cắt giảm viện trợ." Vân vân. Họ áp dụng đúng những chiến thuật đã biết, tiết lộ thông tin cho báo giới và đặt tôi trước sự đã rồi.

Nếu tôi từ chối, công luận sẽ quay ra chống tôi: "Ông ta đòi quá nhiều, ông ta sẽ không bao giờ cho Mỹ được rút, ông ta sẽ không bao giờ cho tù binh Mỹ được trở về." Thế là tôi luôn phải chấp thuận. Không phải tự nguyện, mà miễn cưỡng. Tôi phản đối làm sao được, khi lần nào họ cũng bảo rằng: "Ông mà chống thì sẽ bị cắt viện trợ."

***

Spiegel: “Kissinger viết rằng trước bất kỳ một quyết định dù dưới hình thức nào, phía Mỹ cũng hỏi ý kiến ông trước”.

Nguyễn Văn Thiệu: Vâng, họ hỏi ý kiến tôi, nhưng chắc chắn không phải là để nghe tôi nói "Không", nếu đó là những quyết định phục vụ cho lợi ích của Hoa Kỳ. Họ ưa gây sức ép hơn, và đạt được gần như mọi thứ bằng cách đó.

***

Spiegel: “Bây giờ Kissinger cay đắng chỉ trích về Chiến dịch Hạ Lào năm 1971. Ông ấy viết rằng, ông đã đồng ý rằng chiến dịch này nhất định phải thực hiện trong mùa khô. Vậy ý tưởng đó ban đầu là của ai?”

Nguyễn Văn Thiệu: Của người Mỹ. Trước đó khá lâu, chúng tôi từng có ý định thực hiện, nhưng không đủ khả năng tiến hành một mình. Đến khi phía Mỹ đề xuất thì chúng tôi sẵn sàng đồng ý, để sớm chấm dứt chiến tranh. Chiến dịch đó do liên quân Việt-Mỹ thực hiện và được vạch ra rất rõ ràng: Chúng tôi tác chiến tại Lào, còn phía Mỹ thì hỗ trợ tiếp vận từ Việt Nam và từ biên giới.

***

Spiegel: “Vì sao? Vì Quốc hội Mỹ có luật cấm quân đội Mỹ xâm nhập lãnh thổ Lào?”

Nguyễn Văn Thiệu: Vâng, tôi tin là vậy. Nhưng cũng vì chúng tôi không có đủ phương tiện để tiếp tế cho binh lính, và nhất là để cứu thương binh ra ngoài. Việc đó chỉ có thề thực hiện bằng trực thăng, và chỉ phía Mỹ mới có đủ trực thăng. Không có họ thì không đời nào chúng tôi đồng ý thực hiện chiến dịch tại Lào.

***

Spiegel: “Kissinger viết rằng quân của ông gặp khó khăn khi yêu cầu không quân hỗ trợ, vì gần như không có nhân viên truyền tin nói được tiếng Anh”.

Nguyễn Văn Thiệu: Hoàn toàn không có vấn đề gì với việc hỗ trợ của không quân. Đôi khi không có thì chúng tôi cũng không lo lắng; chúng tôi có thể dùng pháo binh. Vấn đề là: trong ba ngày mở đầu chiến dịch, phía Mỹ đã mất rất nhiều phi công trực thăng. Vì thế mà họ chần chừ, không bay đúng thời điểm và ở quy mô cần thiết. Điều đó thành ra một vấn đề lớn với quân lực Nam Việt Nam.

***

Spiegel: “Tinh thần binh lính bị suy sụp?”

Nguyễn Văn Thiệu: Chúng tôi không đem được binh lính tử trận và thương binh ra ngoài. Không phải chỉ tinh thần binh lính, mà cả tiến độ của chiến dịch cũng bị ảnh hưởng.

***

Spiegel: “Kissinger nêu ra một lý do khác. Rằng ông đã lệnh cho các sĩ quan chỉ huy phải thận trọng khi tiến về hướng Tây và ngừng chiến dịch nếu quân số tổn thất lên tới 3000. Kissinger viết rằng nếu phía Mỹ biết trước điều đó thì không đời nào họ đồng ý tham gia chiến dịch này”.

Nguyễn Văn Thiệu: Đối với một quân nhân, định trước một tổn thất về quân số là điều phi lý. Nếu TS Kissinger nói thế thì ông ấy thật giàu trí tưởng tượng. Chúng tôi chỉ có thể tiến về phía Tây trong giới hạn mà trực thăng cứu viện có thể bay đến. Kissinger bảo là chúng tôi đã rút quân mà không báo cho phía Mỹ. Làm sao chúng tôi có thể triệt thoái trên 10,000 quân mà họ không hay biết gì?

***

Spiegel: “Tức là ông đã thông báo cho họ?”

Nguyễn Văn Thiệu: Ồ, tất nhiên. Để tôi kể cho ông nghe một câu chuyện. Hồi đó tờ Time hay tờ Newsweek có đăng bức hình một người lính Nam Việt Nam đang bám vào càng một chiếc trực thăng cứu viện. Bên dưới đề: "Nhát như cáy". Tôi chỉ cười. Tôi thấy nó tệ. Không thể ngăn một người lính lẻ loi hành động như vậy được. Nhưng báo chí lại kết tội lính Nam Việt Nam là hèn nhát và đồng thời giấu biến sự thật về tinh thần chiến đấu sút kém của phi công trực thăng Mỹ trong chiến dịch này.

Hạ Lào 1971 (Chiến dịch Lam Sơn 719)

Spiegel: “Một điểm gây rất nhiều tranh cãi giữa Hoa Kỳ và Nam Việt Nam là vấn đề ngưng bắn. Theo cuốn hồi ký của Kissinger thì ngay từ mùa Hè 1970 chính phủ Mỹ đã thống nhất về việc sẽ đề xuất một thỏa thuận ngưng bắn tại các chiến tuyến hiện có. Kissinger khẳng định rằng ông không chỉ chấp thuận mà còn ủng hộ đề xuất này”.

Nguyễn Văn Thiệu: Đúng như vậy, tôi cũng cho rằng ngưng bắn phải là bước đầu tiên để đáp ứng một hiệp định hòa bình. Nhưng ngưng bắn ngay lập tức – và tôi xin nhắc lại: ngay lập tức – thì tôi không bao giờ đồng ý với Kissinger. Tôi bảo, chúng ta phải cân nhắc hết sức kỹ lưỡng việc này. Không thể thực hiện ngưng bắn trước khi tính kỹ việc ai sẽ giám sát việc ngưng bắn, nếu ai vi phạm thì hậu quả sẽ thế nào, hai bên sẽ đóng quân ở đâu, vân vân.

***

Spiegel: “Kissinger viết: "Khi đó chúng tôi vẫn tưởng rằng chúng tôi và Thiệu cùng đồng hành hợp tác." Phía Mỹ đã không hiểu rằng ông đem những "chiến thuật né tránh" mà "người Việt thường áp dụng với người ngoại quốc" ra dùng”.

***

Nguyễn Văn Thiệu: Chúng tôi là một nước nhỏ, gần như mọi thứ đều nhờ ở một đồng minh lớn và vẫn tiếp tục phải xin viện trợ dài hạn của đồng minh đó, không bao giờ chúng tôi lại cho phép mình dùng những thủ đoạn nào đó.

***

Spiegel: “Khi Mỹ đã rút, còn Hà Nội thì được phép tiếp tục đóng quân ở miền Nam, chắc ông phải thấy là ông đã thua trong cuộc chiến này?”

Nguyễn Văn Thiệu: Không hẳn, nếu chúng tôi tiếp tục được sự trợ giúp cần thiết từ phía Mỹ, như chính phủ Mỹ đã hứa khi chúng tôi đặt bút ký hiệp định. Ngay cả khi ký, tôi đã coi đó là một nền hòa bình tráo trở.

Nhưng chúng tôi vẫn tin rằng có thể chống lại bất kỳ sự xâm lăng nào của Bắc Việt. Vì hai lý do: Chúng tôi có lời hứa chắc chắn bằng văn bản của Tổng thống Nixon rằng Hoa Kỳ sẽ phản ứng quyết liệt, nếu Bắc Việt vi phạm hiệp định.

***

Spiegel: “Mặc dù ông ấy không hề cho biết sẽ phản ứng bằng cách nào”.

Nguyễn Văn Thiệu: Thứ hai, chúng tôi được đảm bảo là sẽ có đủ viện trợ quân sự và kinh tế cần thiết để chống Bắc Việt xâm lược. Nếu chính phủ Mỹ thực lòng giữ lời hứa thì chiến tranh có thể kéo dài, nhưng miền Nam sẽ không bị Bắc Việt thôn tính.

***

Spiegel: “Về điều này thì ông và Kissinger ít nhiều đồng quan điểm. Ông ấy viết rằng chiến lược toàn cục có thể sẽ thành công, nếu Mỹ đủ khả năng hành động trước bất kỳ một vi phạm nào của Hà Nội và tiếp tục viện trợ đầy đủ cho miền Nam. Nhưng chuyện gì đã xảy ra? Kissinger quy lỗi cho vụ Watergate, vì sau đó Tổng thống Mỹ không còn đủ uy tín. Ông có nghĩ rằng vụ Watergate thực sự chịu trách nhiệm, khiến tất cả sụp đổ không?”

Nguyễn Văn Thiệu: Rất tiếc, nhưng tôi không phải là người Mỹ. Tôi không muốn quét rác trước cửa nhà người Mỹ. Nhưng nếu người Mỹ giữ lời hứa thì đó là sự cảnh báo tốt nhất, khiến Bắc Việt không tiếp tục xâm lăng, và chiến tranh có thể sẽ dần chấm dứt.

***

Spiegel: “Nếu Hoa Kỳ giữ lời thì theo ông, hiệp định hoàn toàn có thể thành công?”

Nguyễn Văn Thiệu: Tôi cho là như vậy.

***

Spiegel: “Như vậy về tổng thể, Hiệp định Paris không đến nỗi tồi?”

Nguyễn Văn Thiệu: Đó chắc chắn không phải là một hiệp định có lợi cho chúng tôi. Nó tráo trở. Nhưng đó là lối thoát cuối cùng. Ông phải hiểu rằng chúng tôi đã ký kết, vì chúng tôi không chỉ có lời hứa của chính phủ Mỹ như tôi đã nói, mà hiệp định đó còn được mười hai quốc gia và Liên Hiệp Quốc đảm bảo.

 Cố vấn Henry Kissinger

Spiegel: “Trong cuốn hồi ký, TS Kissinger có những bình luận rát mặt về khá nhiều chính khách đầu đàn. Nhưng riêng ông thì bị ông ấy dành cho những lời hạ nhục nhất. Tuy đánh giá cao "trí tuệ", "sự can đảm", "nền tảng văn hóa" của ông, nhưng ông ấy vẫn chú tâm vào "thái độ vô liêm sỉ", "xấc xược", "tính vị kỷ chà đạp" và "chiến thuật khủng khiếp, gần như bị ám ảnh điên cuồng" trong cách ứng xử với người Mỹ của ông. Vì thế, cuối cùng Kissinger nhận ra "sự phẫn nộ bất lực mà người Việt thường dùng để hành hạ những đối thủ mạnh hơn về thể lực". Ý kiến của ông về những khắc họa đó thế nào?”

Nguyễn Văn Thiệu: Tôi không muốn đáp lại ông ấy. Tôi không muốn nhận xét gì về ông ấy. Ông ấy có thể đánh giá tôi, tốt hay xấu, thế nào cũng được. Tôi muốn nói về những điều đã xảy ra giữa Hoa Kỳ và Nam Việt Nam hơn.

***

Spiegel: “Hay ông đã làm gì khiến ông ấy có cái cớ để viết về ông với giọng coi thường như thế?”

Nguyễn Văn Thiệu: Có thể ông ấy đã ngạc nhiên vì gặp những người quá thông minh và mẫn cán. Có thể cũng do cái phức cảm tự tôn của một người đàn ông hết sức huênh hoang. Có thể ông ấy không tin nổi là người Việt đối thoại với ông ta lại địch được một người tự coi mình là vô cùng quan trọng.

Để tôi kể thêm một câu chuyện nữa: Ở đảo Midway tôi thấy buồn cười, vì thật chẳng bao giờ tôi có thể hình dung là những người như vậy lại tệ đến thế. Chúng tôi, gồm ông Nixon, ông Kissinger, phụ tá của tôi và tôi, gặp nhau ở nhà một sĩ quan chỉ huy hải quân ở Midway. Ở đó có ba chiếc ghế thấp và một chiếc ghế cao. Ông Nixon ngồi trên chiếc ghế cao.

***

Spiegel: “Như trong phim Nhà độc tài vĩ đại của Chaplin? Hitler cũng ngồi trên một chiếc ghế cao để có thể nhìn xuống Mussolini, ngồi trên một chiếc ghế thấp hơn”.

Nguyễn Văn Thiệu: Nhưng tôi vào góc phòng lấy một chiếc ghế cao khác, nên tôi ngồi ngang tầm với Nixon. Sau buổi gặp đó ở Midway, tôi nghe bạn bè người Mỹ kể lại rằng Kissinger đã rất bất ngờ vì Tổng thống Thiệu là một người như vốn dĩ vẫn vậy.

***

Spiegel: “Trong hồi ký, Kissinger phàn nàn là đã bị cá nhân ông đối xử rất tệ; ông bỏ hẹn để đi chơi trượt nước. Nixon còn quá lời hơn. Theo Kissinger thì Nixon đã gọi ông là "đồ chó đẻ" (son of a bitch) mà Nixon sẽ dạy cho biết "thế nào là tàn bạo".

Nguyễn Văn Thiệu: Rất tiếc, nhưng tôi không thể cho phép mình đáp lại những lời khiếm nhã, thô tục đó của Nixon, vì tôi xuất thân từ một gia đình có nề nếp.

Nếu tôi không tiếp TS Kissinger và Đại sứ Bunker thì đơn giản chỉ vì chúng tôi chưa chuẩn bị xong để tiếp tục đàm thoại. Họ đã cần đến 4 năm, vậy vì sao lại bắt tôi trả lời ngay lập tức trong vòng một tiếng đồng hồ? Có lẽ họ sẽ hài lòng, nếu chúng tôi chỉ biết vâng dạ. Nhưng tôi không phải là một người chỉ biết vâng dạ, và nhân dân Nam Việt Nam không phải là một dân tộc chỉ biết vâng dạ, và Quốc hội của chúng tôi không phải là một Quốc hội chỉ biết vâng dạ. Mà tôi phải hỏi ý kiến Quốc hội.

TT Nixon và Kissinger
  
Spiegel: “TS Kissinger viết rằng thái độ của ông với ông ấy chủ yếu xuất phát từ "lòng oán hận độc địa".

Nguyễn Văn Thiệu: Không. Tôi chỉ bảo vệ lợi ích của đất nước tôi. Dĩ nhiên là đã có những cuộc tranh luận nảy lửa, nhưng thái độ của tôi xuất phát từ tinh thần yêu nước của tôi.

***

Spiegel: “Kissinger viết rằng ông ấy hoàn toàn "thông cảm với hoàn cảnh bất khả kháng" của ông. Ông có thấy dấu hiệu nào của sự thông cảm đó không?”

Nguyễn Văn Thiệu: Không, tôi không thấy. Tôi chỉ thấy duy nhất một điều, đó là áp lực từ phía chính phủ Mỹ.

***

Spiegel: “Kissinger viết rằng ông không bao giờ tham gia vào các buổi thảo luận về chủ trương chung. Ông ấy bảo rằng ông chiến đấu "theo kiểu Việt Nam: gián tiếp, đi đường vòng và dùng những phương pháp khiến người ta mệt mỏi hơn là làm sáng tỏ vấn đề", rằng ông "chê bai mọi thứ, nhưng không bao giờ nói đúng vào trọng tâm câu chuyện".

Nguyễn Văn Thiệu: Hãy thử đặt mình vào tình thế của tôi: Ngay từ đầu tôi đã chấp nhận để chính phủ Mỹ họp kín với Hà Nội. Kissinger bảo là đã thường xuyên thông báo cho tôi. Vâng, tôi được thông báo thật – nhưng chỉ về những gì mà ông ấy muốn thông báo. Nhưng tôi đã tin tưởng rằng đồng minh của mình sẽ không bao giờ lừa mình, không bao giờ qua mặt tôi để đàm phán và bí mật bán đứng đất nước tôi.

Các ông có hình dung được không: vỏn vẹn bốn ngày trước khi lên đường đến Hà Nội vào tháng Mười 1972, ông ấy mới trao cho tôi bản dự thảo mà sau này sẽ được chuyển thành văn bản hiệp định ở Paris, bằng tiếng Anh? Chúng tôi phải làm việc với bản dự thảo tiếng Anh này, từng điểm một.

Và bản dự thảo đó không phải do Nam Việt Nam cùng Hoa Kỳ soạn ra, mà do Hà Nội cùng Hoa Kỳ soạn ra. Các ông có thể tưởng tượng được điều đó không? Lẽ ra, trước hết phía Mỹ nên cùng chúng tôi thống nhất quan điểm về những điều kiện đặt ra cho hiệp định, và sau đó, nếu Bắc Việt có đề nghị gì khác thì Kissinger phải trở lại hội ý với chúng tôi. Nhưng ông ấy không hề làm như vậy.

Thay vào đó, ông ấy cùng Bắc Việt soạn ra các thỏa thuận rồi trình ra cho tôi bằng tiếng Anh. Các ông có thể hiểu cảm giác của tôi khi cầm văn bản của hiệp định hòa bình sẽ quyết định số phận của dân tộc tôi mà thậm chí không buồn được viết bằng ngôn ngữ của chúng tôi không?

***

Spiegel: “Nhưng cuối cùng ông cũng có bản tiếng Việt?”

Nguyễn Văn Thiệu: Chúng tôi cương quyết đòi bản tiếng Việt, đòi bằng được. Mãi đến phút cuối cùng ông ấy mới miễn cưỡng chấp nhận. Sau đó chúng tôi phát hiện ra rất nhiều cái bẫy. Tôi hỏi Đại sứ Bunker và Kissinger, ai đã soạn bản tiếng Việt. Họ bảo: một người Mỹ rất có năng lực thuộc International Linguistics College tại Hoa Kỳ cùng với phía Hà Nội. Nhưng làm sao một người Mỹ có thể hiểu và viết tiếng Việt thành thạo hơn người Việt. Và làm sao một người Mỹ có thể ứng đối bằng tiếng Việt với cộng sản Bắc Việt giỏi hơn chính chúng tôi? Đồng minh mà như thế thì có chân thành và trung thực không?

***

Spiegel: “Một số quan chức cao cấp ở Hoa Kỳ từng nhận định rằng thực ra Kissinger chỉ cố gắng đạt được một khoảng thời gian khả dĩ giữa việc Mỹ rút quân và sự sụp đổ tất yếu của Nam Việt Nam. Trong cuốn sách của mình, Kissinger bác bỏ quan niệm đó. Ý kiến của ông thì thế nào?”

Nguyễn Văn Thiệu: Bất kể người Mỹ nói gì, tôi tin rằng mục đích cuối cùng của chính phủ Mỹ là một chính phủ liên hiệp tại Nam Việt Nam.

***

Spiegel: “Nhưng Kissinger đưa ra cả một loạt điểm để chứng minh rằng không phải như vậy”.

Nguyễn Văn Thiệu: Chính phủ Mỹ tìm cách ép chúng tôi phải đồng ý. Để họ có thể hãnh diện là đã thoát ra được bằng một "thỏa thuận danh dự". Để họ có thề tuyên bố ở Hoa Kỳ rằng: "Chúng ta rút quân về nước, chúng ta đảm bảo việc phóng thích tù binh Mỹ." Và ở ngoài nước Mỹ thì họ nói rằng: "Chúng tôi đã đạt được hòa bình cho Nam Việt Nam. Bây giờ mọi chuyện do người dân Nam Việt Nam định đoạt. Nếu chính phủ liên hiệp biến thành một chính phủ do cộng sản chi phối thì đó là vấn đề của họ. Chúng tôi đã đạt được một giải pháp danh dự."

***

Spiegel: “Kissinger viết như sau: "Nguyên tắc mà chúng tôi tuân thủ trong các cuộc đàm phán là: Hoa Kỳ không phản bội đồng minh."

Nguyễn Văn Thiệu: Ông cứ nhìn miền Nam Việt Nam, Campuchia và toàn bộ Đông Dương hiện nay thì biết. Khi tranh luận với các đại diện chính phủ Mỹ về hiệp định hòa bình, chúng tôi thường có ấn tượng rằng họ không chỉ đóng vai, mà thực tế là đã biện hộ cho ác quỷ.

***

Spiegel: “Có bao giờ ông thấy một chút gì như là biết ơn đối với những điều mà người Mỹ đã làm để giúp nước ông không? Trong cuốn sách của mình, Kissinger viết rằng: "Biết công nhận những cống hiến của người khác không phải là đặc tính của người Việt."

Nguyễn Văn Thiệu (cười): Về những điều mà Kissinger viết trong cuốn sách của ông ấy thì tôi cho rằng chỉ một người có đầu óc lộn bậy, chỉ một người có tính khí tởm lợm mới nghĩ ra được những thứ như vậy. Trong cuốn sách đó ông ấy còn tỏ ý sợ người Việt sẽ đem những người Mỹ còn sót lại ra trả thù, sau khi Washington bỏ rơi chúng tôi. Không bao giờ chúng tôi làm những điều như thế, không bây giờ và không bao giờ.

***

Spiegel: “Cá nhân ông có cảm thấy một chút hàm ơn nào với họ không?”

Nguyễn Văn Thiệu: Hết sức thực lòng: Nếu chính phủ Mỹ không phản bội, không đâm dao sau lưng chúng tôi thì nhân dân Việt Nam mãi mãi biết ơn họ. Có lần, sau khi chúng tôi tranh luận rất kịch liệt về một văn bản trong hiệp định, một số thành viên trong chính phủ của tôi bảo rằng, nếu Kissinger lập công với miền Nam như ông ta đã lập công với miền Bắc thì may mắn biết bao. Tôi bảo họ: nếu ông ấy thương lượng được một nền hòa bình thực sự với Hà Nội thì miền Nam sẽ dựng tượng ông ấy, như MacAthur ở Nam Hàn. Nhưng đáng tiếc là đã không như vậy. Nhìn vào những hậu quả của nền hòa bình ấy: trại tập trung cải tạo, nạn đói, nhục hình tra tấn, hàng ngàn thuyền nhân bỏ mạng trên biển, và một cuộc diệt chủng tàn bạo hơn, hệ thống hơn và hoạch định hơn cả ở Campuchia, tôi nghĩ tốt nhất là người Mỹ nên tự đánh giá những điều mà ông Nixon và ông Kissinger đã gây ra cho miền Nam Việt Nam. Kissinger không có gì để tự hào về nền hòa bình mà ông ấy đã đạt được. Đó là hòa bình của nấm mồ.

Spiegel: “Xin cảm ơn ông Thiệu đã dành cho chúng tôi cuộc phỏng vấn này”.


"Tội phạm Chiến tranh" Kissinger và 2 cựu ngoại trưởng  Shultz - Albright


***
--> Read more..

Thứ Ba, 19 tháng 4, 2016

41 năm nhìn lại

Thường thì chính quyền hay tổ chức kỷ niệm những ngày lễ lớn một cách “hoành tráng” vào những năm tròn như 10, 20, 30 hoặc 40 năm. Năm nay, kỷ niệm ngày 30/4 không nằm vào chu kỳ đó nhưng đối với tôi (có thể là với một số những công dân bình thường khác), kỷ niệm 30/4 năm nay mang ý nghĩa đặc biệt của sự “Bất An”.

Lướt trên Facebook, cái cảm giác “bất an” lại càng rõ nét. Tại Sài Gòn, mới đây một anh Thượng sĩ Công an dùng đòn hiểm quật ngã một anh bán hàng rong tại quận 6 đến độ chấn thương sọ não. Đó chỉ là giọt nước mới nhất… nhỏ vào cái ly đang chực tràn.

Trước đó có biết bao nhiêu trường hợp người dân chết trong đồn công an chỉ vì những nguyên do “lãng xẹt” như… rửa bát không sạch, hay bị “ăn đòn” chỉ vì chạy xe làm tung bụi đường... Chỉ một năm nay thôi, không biết có đến biết bao nhiêu vụ người dân chết trong đồn!

“Bất an” đến độ ngồi trong nhà cũng phải cảnh giác, đề phòng kẻ lạ. Hắn có thể giật iPad, iPhone của bạn ngay trong nhà bạn. Một lúc nào đó, chiếc xe để trong nhà tưởng an toàn tuyệt đối bỗng… không cánh mà bay.

“Bất an” mỗi khi bước ra khỏi nhà. Biết đâu nạn nhân bị cướp xe, chặt tay… kế tiếp lại rơi đúng vào mình? Rõ ràng người bị cướp giật ngoài đường không còn là một trường hợp hiếm hoi chỉ xảy ra đối với du khách nước ngoài khi đến Việt Nam. Không những chỉ là chuyện giật dây chuyền, điện thoại vẫn xảy ra hàng ngày mà còn “cướp” đất đai và mạng sống có thể xảy ra bất cứ lúc nào trên khắp tỉnh thành của cả nước.

Chưa bao giờ chữ “cướp” lại được nhắc đến trên cửa miệng người dân nhiều đến vậy. Năm 1945, người ta cũng dùng chữ “cướp” nhưng hiện tượng này, dạo đó, được tô hồng, nâng lên một quan điểm để trở thành cụm từ được “thi-vị-hóa-chính-trị” là “Cướp Chính Quyền”!

Sự “bất an” ngoài những biểu hiện trong cuộc sống hàng ngày còn một nguyên nhân sâu xa hơn là mối đe dọa từ anh bạn láng giềng phương Bắc. Người láng giềng “4 tốt, 16 chữ vàng” đang như một vết dầu loang từ ngoài Biển Đông vào đất liền. Ải Nam Quan đã mất, vấn đề Hoàng Sa & Trường Sa chỉ còn là thời gian. “Bất An” thật rồi!  

Đó là một thực tế không thể phủ nhận. Ngày nay, trẻ con khi cầm trong tay những món đồ chơi hay cả những thức ăn đưa vào mồm cũng cảm thấy mình bị đầu độc bởi những hàng hóa “Made in China”. Huống chi là người lớn!

Chỉ những người nắm quyền sinh sát vận mệnh dân tộc trong tay, dù thấy rõ nhưng vẫn làm ngơ. Họ vẫn bỏ ra hàng tỷ đồng để xây tượng đài trong khi trẻ em không có cơm ăn, áo mặc. Họ vẫn tiến hành trò chơi dân chủ nửa vời “Đảng cử, dân bầu”, vẫn ca tụng thể chế chính trị “Dân chủ đến thế là cùng!”. 

Năm nay, chúng ta “kỷ niệm 41 năm” trong “bất an”. Đó là điều mọi người dân đa số đều cảm nhận được sự “bất an” từ chính trị-văn hóa-xã hội cho đến cuộc sống thiết thực hàng ngày quanh quẩn trong vòng “cơm, áo, gạo, tiền”.

Kỷ niệm 10 năm ngày 30/4

***

Ngày 30/4/1975 tại miền Bắc, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đó là ngày đến trong hào quang chiến thắng sau một cuộc chiến được mệnh danh "Vì độc lập, vì tự do, đánh cho Mỹ cút đánh cho ngụy nhào". Người dân miền Bắc “hồ hởi, phấn khởi” vì miền Nam được hoàn toàn “giải phóng”.

Ngày đó, Huy Đức, tác giả cuốn sách “Bên Thắng cuộc” [1], đang sống ở một vùng quê nghèo đói tại miền Bắc. Anh mở đầu tác phẩm với những dòng tâm sự:

“Cuốn sách này bắt đầu bằng những câu chuyện xảy ra trong ngày 30-4-1975. Ngày mà tôi, một cậu bé mười ba, trước giờ học chiều, đang vật nhau ven đồi thì nghe loa phóng thanh truyền tin “Sài Gòn giải phóng”. Thay vì tiếp tục ăn thua, chúng tôi buông nhau ra.

Miền Nam, theo như những bài học của chúng tôi, sẽ chấm dứt “hai mươi năm rên xiết lầm than”. Trong cái thời khắc lịch sử ấy, trong đầu tôi, một sản phẩm của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, xuất hiện ý nghĩ: phải nhanh chóng vào Nam để giáo dục các bạn thiếu niên lầm đường lạc lối”.

“… hình ảnh miền Nam đến với tôi trước cả khi tôi có cơ hội rời làng quê nghèo đói của mình. Trên quốc lộ Một bắt đầu xuất hiện những chiếc xe khách hiệu Phi Long thỉnh thoảng tấp lại bên những làng xóm xác xơ. Một anh chàng tóc ngang vai, quần loe, nhảy xuống đỡ khách rồi đu ngoài cánh cửa gần như chỉ trong một giây trước khi chiếc xe rú ga vọt đi”.

***

Nhiều tuổi hơn Huy Đức, nhà văn Dương Thu Hương, thuộc thế hệ “xẻ Trường Sơn đi đánh Mỹ” từ năm 1968, đã có lần công khai bầy tỏ rằng ngày 30/4/1975 bà đã ngồi trên lề đường của Sài Gòn ôm mặt khóc vì khám phá ra rằng, “chế độ chiến thắng trong cuộc chiến, chẳng qua chỉ là một thể chế man rợ”.

Phóng viên Sam Korsmoe, người đã từng ở Việt Nam hơn 10 năm, sau khi về Hoa Kỳ năm 2006, anh viết cuốn “Saigon Stories” [2]. Sam phỏng vấn một gia đình từ miền Bắc vào Nam sau năm 1975 gồm 2 vợ chồng và 3 người con gái. Phan Xuân Giáp (bác sĩ thú y, sinh năm 1945) và vợ là Nguyễn Thị Vinh (giáo viên tại Vĩnh Phú), Cô giáo Vinh kể lại cảm tưởng vào sáng ngày 30/4/1975:

Tôi đang dạy trong lớp thì có tiếng người báo: ‘Giải phóng rồi! Thống nhất rồi!’ thế là cả trường hò reo. Hồi đó người dân đa số chưa có đài, mọi người phải nghe tin qua loa phóng thanh gắn trên cây trong sân trường. Chúng tôi ai cũng hồ hởi. Cả nước hồ hởi. Miền Bắc hồ hởi. Mừng vì không còn chiến tranh, không còn chết chóc!

Cũng như Huy Đức, cô giáo Vinh có những suy nghĩ của kẻ chiến thắng. Vợ chồng Giáp-Vinh di dân vào miền Nam rất sớm trong năm 1975. Khởi đầu là cô giáo Vinh, tình nguyện vào dạy học tại Sài Gòn vào tháng 12/1975 vì, theo chính quyền Hà Nội lúc đó, “miền Nam rất cần giáo viên”.

Chúng tôi phải học chính trị trong suốt 2 tháng trước khi vào Nam. Chúng tôi được hướng dẫn cách dậy học khi vào trong đó, học cả tâm lý của học sinh Sài Gòn, học cách làm gương vì chúng tôi sẽ là những đại diện của miền Bắc tại vùng mới giải phóng…”  

Và đây là cảm tưởng đầu tiên của cô khi bước chân vào Sài Gòn, tháng 12/1975:

Sài Gòn đẹp quá. Khi xe vào đến cầu Sài Gòn thì trời đã nhá nhem tối nhưng hai bên đường đèn sáng rực. Cả đời tôi chưa bao giờ thấy nhiều đèn đến như vậy. Tôi thấy thích thành phố này…” 

Còn rất nhiều suy nghĩ của người dân miền Bắc trong ngày 30/4/1975. Nói chung là rất lạc quan trước viễn ảnh một nước Việt Nam thống nhất. Nhưng có một cái gì đó nghẹn ngào khi “quân-cán-chính” chế độ cũ lần lượt đi cải tạo.

Người Sài Gòn ở lại sau những đợt đổi tiền, cải tạo công thương nghiệp được khuyến khích, có nơi thậm chí còn bị cưỡng bức, đi “kinh tế mới” để thực hiện chính sách “giãn dân”, nhường chỗ cho đợt “di dân” của cán bộ, đảng viên từ miền Bắc vào Nam.

“Sài Gòn đẹp lắn, Sài Gòn ơi, Sài Gòn ơi…”

Nhìn từ một góc độ khác, một góc độ “trung lập” của những người thuộc “phe thứ ba” tại miền Nam. Họ là những người không “cộng sản” nhưng cũng không “cộng hòa” mà Sam Korsmoe mô tả là… “Những người ái quốc miền Nam”. 

Đại diện cho những người này là Lý Quý Chung, Bộ trưởng Thông tin trong “nội-các-3-ngày” của Tổng thống Dương Văn Minh. Ông Chung còn được biết đến như một nhà báo với bút hiệu Chánh Trinh.

Vào “giờ thứ 25” của cuộc chiến, ông tham gia nội các “hòa bình & hòa giải dân tộc” ngày 26/4/1975, nội các này chỉ có 4 người: Dương Văn Minh (Tổng thống), Nguyễn Văn Huyền (Phó tổng thống), Vũ Văn Mẫu (Thủ tướng) và Lý Quý Chung (Bộ trưởng Thông tin).

Theo lời ông Chung kể lại trong “Saigon Stories”, buổi lễ bàn giao chức vụ Tổng thống từ Trần Văn Hương sang Dương Văn Minh được diễn ra ngày 27/4 nhưng tướng Minh không trực tiếp điều hành ngay lập tức, ông dự tính sẽ bắt đầu vào ngày 30/4. Cũng theo giải thích của ông Chung, tướng Minh là người rất tin dị đoan và ngày 30/4 mới là “ngày tốt” đối với ông.

Gặp tướng Minh trong ngày 29/4, ông Chung đề nghị sẽ tuyên bố Sài Gòn là  ‘thành phố bỏ ngỏ’ và tự nguyện chuyển giao quyền lực cho Mặt trận Giải phóng miền Nam. Tướng Minh đồng ý và liên lạc với Phó tổng thống Nguyễn Văn Huyền để soạn thảo bản thông báo. Khi đó đã vào buổi tối nên thông báo của chính phủ sẽ được công bố ngày hôm sau, 30/4. Ông Chung kể lại với Sam Korsmoe:

Khoảng 11g ngày 30/4, một chiếc xe tăng xuất hiện trên đường Thống nhất, cách dinh Độc Lập khoảng 500m. Xe tăng nổ súng, theo tôi, họ bắn chỉ thiên để phô trương sức mạnh chứ không nhắm vào dinh Độc Lập. Mọi người hốt hoảng rút vào trong dinh. Đến khi bộ đội vào dinh, chúng tôi khoảng từ 30 đến 40 người giơ tay đầu hàng

Ba người chúng tôi [Minh, Mẫu, Chung] bước tới phía trước, họ ra lệnh: ‘Buông súng xuống! Giơ tay lên!’… Một thoáng suy nghĩ trong đầu óc tôi, ‘Mình tranh đấu cho hòa bình và kết quả như thế này sao? Kết cuộc không hợp lý chút nào!’… Một vài phóng viên, trong đó có Nguyễn Bá Thành, ôm chầm lấy tôi, họ reo vui ‘Chúng ta thắng rồi! Chúng ta thắng rồi!’…  

“Saigon Stories”, Sam Korsmoe, 2006

***

Góc nhìn từ bên ngoài vào cuộc chiến tại Việt Nam cũng đa dạng. Tuy nhiên, có thể nói, thế giới báo chí quốc tế gồm 3 hướng đưa tin chính: (1) ủng hộ cuộc chiến hay còn gọi là “diều hâu”; (2) phản chiến hay “bồ câu” và (3) trung lập.

Theo tôi, một trong những bài viết về những ngày cuối cùng của Sài Gòn đầy đủ nhất và nhiều chi tiết thú vị nhất là của John Pilger [3]. Không giống như các phóng viên Mỹ, Pilger là người Úc thuộc nhóm phóng viên “quốc-tịch-thứ-ba” tham gia  cuộc chiến Việt Nam đến ngày cuối cùng và viết bài cho báo Anh.

Pilger đã hai lần đạt được danh hiệu “Phóng viên của năm” (Journalist of the Year), giải thưởng hằng năm cao quý nhất của báo chí Anh. Với tựa đề “The Fall of Saigon 1975: An Eyewitness Report”, Pilger đã đưa người đọc trở về với những ngày định mệnh vào cuối tháng 4/75. Pilger viết:

“Sài Gòn đang sụp đổ trước mắt, một Sài Gòn được người Mỹ hậu thuẫn, một thành phố được coi là “thủ đô tiêu dùng” nhưng chẳng hề sản xuất một mặt hàng nào ngoài chiến tranh. Trong hàng ngũ của quân đội lớn thứ tư thế giới vào thời điểm đó, binh lính đang đào ngũ với tốc độ cả nghìn người trong một ngày…”

Pilger tả lại quang cảnh đường phố Sài Gòn:

“Lệnh giới nghiêm 24/24 giờ được áp dụng, nhưng vẫn có người trên đường phố trong đó có cả lính của Sư đoàn 18 thuộc vùng 4 chiến thuật. Tôi nghĩ họ nổi giận khi thấy người Mỹ sắp ra đi. Họ xuất hiện ở trung tâm thành phố để nhìn những người nước ngoài, hoặc đe doạ hoặc bắn chỉ thiên để giải toả nỗi tức giận.

“Công trường Lam Sơn trống trải, chỉ có vài người lính đi lại với vẻ chán chường. Một người trong số này đi nhanh về hướng đại lộ Tự Do, thét vào mặt tôi. Hình như anh ta say. Anh ta lấy súng lục, ngắm bắn, chọn mục tiêu và bóp cò. Viên đạn sượt qua đầu trong khi tôi chạy…”

Tình hình ngày càng rối ren, bất ổn… người Việt tìm đường rời khỏi đất nước khiến Đại sứ Mỹ Graham Martin phải xuất hiện trên truyền hình với lời cam kết long trọng: “Nước Mỹ sẽ không rút khỏi Việt Nam”. Ông tuyên bố:

"Tôi, Đại sứ Mỹ, sẽ không chạy trốn lúc nửa đêm. Bất kỳ ai cũng có thể tới nhà tôi và chứng kiến tôi chưa sắp xếp hành lý" (I, the American Ambassador, am not going to run away in the middle of the night. Any of you can come to my home and see for yourselves that I have not packed my bags).

Theo Pilger, Đại sứ Martin vẫn khẳng định với Washington rằng miền Nam có thể tồn tại với "vành đai thép" (iron ring) bao quanh Sài Gòn và những máy bay B-52 lúc nào cũng sẵn sàng yểm trợ. Tuy nhiên, trong thâm tâm ông Đại sứ luôn giữ trong lòng một vết thương khó phai khi mất đi người con trai tại vùng đất này 9 năm về trước.   

Ông Martin có lý do để lạc quan: Ngoại trưởng Henry Kissinger cho biết Đại sứ Nga tại Washington, Anatoly Dobrynin, hứa sẽ chuyển thông điệp muốn đàm phán của VNCH tới Hà Nội. Mọi chuyện không lạc quan như ông Đại sứ Mỹ nghĩ.

10g43 ngày 29/4/1975: Lệnh tiến hành “Option Four” được đưa ra. Tuy nhiên, Đại sứ Martin vẫn tin rằng “còn thời gian” để đàm phán để có một “giải pháp danh dự”. Một đám đông chen lấn ở trước cửa sứ quán Mỹ, có người còn cố trèo tường để vào bên trong. Một số người có mặt ở đây chỉ vì tò mò; một số khác vừa ôm chặt cánh cổng sắt vừa nài nỉ thủy quân lục chiến Mỹ.

3g15 chiều 29/4/1975: Chiếc Cadillac chở Đại sứ Martin không thể rời cổng phụ sứ quán. Chiếc xe dừng lại và ông tuyên bố: “Một lần nữa, tôi sẽ đi bộ về nhà của mình, tôi sẽ đi bộ một cách thoải mái trong thành phố này. Tôi sẽ rời Việt Nam khi Tổng thống bảo tôi phải làm như vậy”.

2g30 sáng 30/4/1975: Kissinger gọi điện cho Martin và yêu cầu ông kết thúc kế hoạch di tản lúc 3g45 sáng. Nửa tiếng sau, Martin xuất hiện cùng một chiếc cặp da, một túi xách tài liệu và lá cờ Sao & Sọc của Hoa Kỳ. Ông im lặng đi lên tầng 6, nơi một chiếc trực thăng đang đợi.

Những người lính Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ cuối cùng rút lên sân thượng, họ bắn lựu đạn cay xuống cầu thang trong tâm trạng hoang mang của những người lính cuối cùng rời khỏi Việt Nam… Ngày 2/5/1975 vị Đại sứ Hoa Kỳ 61 tuổi với vẻ mệt mỏi đã tuyên bố ngắn gọn với các phóng viên có mặt trên Đệ thất Hạm đội:

“Với tư cách một quốc gia, nếu chúng ta đã làm những gì mà tôi nghĩ là chúng ta đã nói thì chúng ta nên làm – nếu chúng ta giữ những cam kết đó - thì chúng ta đã không phải di tản”.

John Pilger, 1970

***

Nhà văn Việt kiều, Nguyễn Thanh Việt, hiện là một giáo sư tại University of Southern California, có thể nói là đại diện cho thế hệ thứ hai của người Việt tị nạn tại Hoa Kỳ vừa đoạt giải Pulitzer về tiểu thuyết năm 2016. Đó là tác phẩm “The Sympathizer”, nếu dịch cho đầy đủ ý nghĩa sẽ có cái tên “Kẻ Nằm Vùng” chứ không phải là “Cảm Tình Viên” như BBC tiếng Việt đã đưa tin.

Tiểu thuyết bắt đầu từ những ngày cuối tháng 4/1975. Người kể chuyện là một gián điệp được cộng sản cài vào trong ngành cảnh sát VNCH với vai trò trợ lý cho một ông tướng. Anh ta xưng “tôi” trong suốt chuyện kể về hoạt động của mình trong lúc giao thời và sau đó được lệnh di tản sang Hoa Kỳ để tiếp tục công tác.

Chi tiết này cũng giống như chuyện đời thực của Phạm Xuân Ẩn, “nằm vùng” trong lãnh vực báo chí tại miền Nam, cũng được “tổ chức” giao cho nhiệm vụ sang Mỹ và đã chuẩn bị cho gia đình đi trước. Cuối cùng, “điệp viên hoàn hảo” đó gặp nhiều “trục trặc” từ phía chính quyền mới chỉ vì anh đã bị “Mỹ hóa”… nên phải chấm dứt mọi hoạt động và gia đình phải trở về Việt Nam theo con đường lòng vòng.   

Vì khuôn khổ của bài viết này, tôi không thể phân tích góc nhìn của thế hệ người Việt thứ hai tại hải ngoại. Tuy vậy, nhìn chung, GS Nguyễn Thanh Việt rời Việt Nam năm 1975 khi mới 5 tuổi.

Đó là điểm yếu của người viết về giai đoạn 30/4/1975, thiếu hẳn kinh nghiệm sống của những bậc cha chú đã từng trải qua trong thực tế. Dẫu biết rằng sự thiếu sót đó có thể bù đắp qua nghiên cứu sách vở, tài liệu nhưng, ông cha ta thường nói, “Đoạn trường ai có qua cầu mới hay”!


***

Trở về với hiện tại của năm 2016. Sau 41 năm, không ít thì nhiều, những người có liên quan đến biến cố 30/4/1975 sẽ có những cái nhìn khác nhau, tùy theo chính kiến, vùng miền. Nói rộng ra, tùy theo ý thức hệ chính trị, để có sự so sánh đối chếu giữa quá khứ và hiện tại.

Như đã viết ở phần mở đầu, riêng tôi, cái cảm giác “Bất An” ngày càng đè nặng trong lần kỷ niệm thứ 41 của “Tháng Tư Đen”.

***

Chú thích:

[1] Đọc “Bên Thắng Cuộc (1) - về tác giả Huy Đức”

[2] Đọc “Saigon Stories: Hồi ức của các nhân vật”

[3] Đọc “Cuộc chiến Việt Nam nhìn từ truyền thông nước ngoài”

***

(Trích Hồi ức một đời người – Chương 10: Thời xuống lỗ)

Hồi Ức Một Đời Người gồm 9 Chương:

  1. Chương 1: Thời thơ ấu (từ Hà Nội vào Đà Lạt)
  2. Chương 2: Thời niên thiếu (Đà Lạt và Ban Mê Thuột)
  3. Chương 3: Thời thanh niên (Sài Gòn)
  4. Chương 4: Thời quân ngũ (Sài Gòn – Giảng viên Trường Sinh ngữ Quân đội)
  5. Chương 5: Thời cải tạo (Trảng Lớn, Trảng Táo, Gia Huynh)
  6. Chương 6: Thời điêu linh (Sài Gòn, Đà Lạt)
  7. Chương 7: Thời mở lòng (những chuyện tình cảm)
  8. Chương 8: Thời mở cửa (Bước vào nghề báo, thập niên 80)
  9. Chương 9: Thời hội nhập (Bút ký những chuyến đi tới 15 quốc gia và lãnh thổ)

Tác giả còn dự tính viết tiếp một Chương cuối cùng sẽ mang tên… Thời xuống lỗ (thập niên 2000 cho đến ngày xuống lỗ)!


***
--> Read more..

Popular posts