Thứ Năm, 16 tháng 11, 2017

Vui buồn thời điêu linh: Học tập cải tạo

Tại miền Nam, vào tháng 6/1975 Chính phủ Lâm thời Cộng hòa niền Nam Việt Nam ra thông cáo bắt buộc sĩ quan và viên chức Việt Nam Cộng hòa phải đi “học tập cải tạo”. Thông báo của Ủy ban Quân quản nêu rõ:

"Việc tổ chức cho ngụy quân, ngụy quyền và các đối tượng phản động ra trình diện học tập cải tạo thể hiện chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước, có tác dụng phân hóa hàng ngũ bọn phản động, cô lập bọn đầu sỏ ngoan cố, đập tan luận điệu tuyên truyền chiến tranh tâm lý của địch, tranh thủ được sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân."

Cụ thể hơn, chính quyền đưa ra bốn thành phần cần phải tập trung cải tạo: (1) Ngụy quân: sĩ quan từ cấp úy đến cấp tướng; (2) Ngụy quyền: cảnh sát, tư pháp, hành chính; (3) Đảng phái phản động: đảng viên hoạt động từ cấp quận trở lên; và (4) Đầu hàng, phản bội: các phần tử bị Ngụy quyền chiêu hồi.

Bên cạnh đó là những thành phần không thuộc bốn diện trên nhưng có hoạt động chống phá như nhà văn, nhà báo (còn được gọi là “những tên biệt kích cầm bút")... cùng các tội phạm hình sự như trộm cướp, ma túy cũng được xếp vào diện phải đi học tập cải tạo.

Thực tế thì việc học tập cải tạo bắt đầu từ tháng 5/1975 đối với hạ sĩ quan và binh sĩ VNCH. Họ phải qua một khóa chính trị 3 hay 4 ngày rồi được chính quyền địa phương cấp giấy chứng nhận để cho về. Thế cho nên, đa số các sĩ quan cũng chỉ “mong” tới phiên mình “được” học tập và sớm trở về với gia đình và xã hội.

Giấy chứng nhận đã học tập cải tạo cấp cho hạ sĩ quan và binh sĩ VNCH

Thời gian trình diện được quy định từ ngày 13 đến 16/6/1975. Người ta chú ý đến chi tiết phải mang theo lương khô đủ dùng trong 10 ngày để tự túc về lương thực. Hạ sĩ quan và binh sĩ đã học 3 ngày nên sĩ quan cấp úy sẽ học 10 ngày là điều… vô cùng hợp lý. Đối với nhiều người, đó là một chính sách nhân đạo.

Một trong những trường hợp lạc quan là Bác sĩ Nguyễn Phước Đại, khi đó làm Giám đốc Bệnh viện Sài Gòn (xế bên Chợ Bến Thành). Ông vốn là dân Tây mới về nước nên thắc mắc với các nhân viên trong bệnh viện: “Lươn khô tôi không biết ăn, vậy chứ nếu mang thứ khác thay thế được không?”. Ông bác sĩ giỏi tiếng Pháp nhưng lại không rành tiếng Việt nên cứ tưởng “lương khô” là… con lươn được sấy khô! 

Thủ tục đầu tiên để được cải tạo là… đăng ký để đi học. Địa điểm tôi đăng ký là trường Taberd nằm ở góc đường Hai Bà Trưng – Lê Thánh Tôn, sau này đổi tên là trường Trung học Sư phạm. Trong ba lô hay túi xách của mỗi người đi trình diện có các loại lương khô như mì gói, gạo sấy, thịt chà bông… kèm theo các vật dụng cá nhân như một bộ quần áo để thay đổi, bàn chải-kem đánh răng và vài viên thuốc cảm phòng khi trái nắng trở trời.

Nói chung, bầu không khí đăng ký tại đây có phần “hồ hởi” vì ai cũng nghĩ đến ngày học xong để trở về với gia đình và xã hội. Việc đăng ký cũng đơn giản: chỉ cần khai họ tên, số quân, cấp bậc, chức vụ, đơn vị phục vụ… Tuy nhiên, đăng ký xong là tập trung học tập ngay chứ không phải… đăng ký, giữ chỗ rồi về nhà chờ.


Trình diện học tập cải tạo

Ngay tối hôm đó chúng tôi được một đoàn xe Molotova bít bùng chở đến địa điểm học tập. Trên xe ngoài tài xế còn có 2 anh bộ đội với súng AK ngồi ngoài cùng. Các anh còn rất trẻ, khi thấy trong xe tôi có cả nữ quân nhân nên nói với nhau: “Lại còn đem cả vợ đi học nữa”!

Đường ban đêm nên chẳng biết xe đi đâu. Mọi người chỉ đoán xe chạy rất lâu, khoảng 100 km, thì dừng. Có người tỏ ra quen thuộc với địa điểm này, anh nói hình như đây là căn cứ Trảng Lớn của Sư đoàn 25 bộ binh ở Tây Ninh. Anh bạn cùng xe với tôi đã nói đúng vì trước đây anh phục vụ tại sư đoàn này.

Tuy vậy, anh chỉ đúng có một phần. Hồi xưa đơn vị anh là chủ căn cứ nhưng giờ đây nơi này thuộc quyền kiểm soát của “bên thắng cuộc”. Chúng tôi chỉ là “những người khách không mời” của trại cải tạo Trảng Lớn, Tây Ninh. Sự nghiệt ngã của chiến tranh là vậy.

Nằm ở phía Tây Nam Sài Gòn, Trảng Lớn là một căn cứ quân sự quan trọng chỉ cách biên giới Cambodge chừng 40 km. Ngọn núi Bà Đen cũng là một điểm chiến lược trọng yếu, từ đây có thể khống chế toàn khu vực nên có đặt một đài radar. Đối với người cải tạo, núi Bà Đen (trước đây còn được gọi là “Đỉnh Buồn Hiu” vì mang tên Núi Một) tượng trưng cho Sài Gòn để họ hướng về nơi gia đình và người thân đang sống.

Núi Bà Đen, Tây Ninh

“Trảng” là một từ ngữ phổ biến tại vùng Tây Nam bộ, hàm ý một vùng cỏ hoang, bằng phẳng giáp với rừng hay giữ hai cánh rừng. Đó có thể cũng là lý do Sư đoàn 25 thiết lập một căn cứ quân sự khá lớn với nhiều doanh trại làm theo kiểu nhà tiền chế và rất nhiều kho quân nhu, quân dụng.

Giờ thì mỗi căn nhà có thể chứa khoảng 50 người cải tạo, một sự sắp xếp trớ trêu của định mệnh sau ngày miền Nam thất thủ. Phải nói là chúng tôi vẫn còn may mắn khi Trảng Lớn đặt dưới quyền kiểm soát của bộ đội chứ không là công an. Vì sao ư? Đơn giản chỉ vì bộ đội không quá khắc nghiệt như công an, vốn nổi tiếng với cách điều hành một trại giam.

Mọi người sống trong tâm lý… “sinh hoạt cầm chừng” chờ ngày được về. Thời gian hơn 10 ngày đã qua đi mà trại chỉ mới tổ chức một hai buổi “lên lớp chính trị” với các bài giảng như “đế quốc Mỹ là kẻ thù của nhân dân”, “thật thà khai báo việc làm trong thời gian qua để sớm được trở về với gia đình”…

Sau mỗi buổi học tập chính trị, mỗi cá nhân phải viết “bản tự kiểm” nộp cho “quản giáo”, tức bộ đội phụ trách từng đội. Cũng có những buổi sinh hoạt tổ được giám sát bởi quản giáo để mọi người đứng ra thú nhận “tội máu với nhân dân” dù đó là anh bác sĩ quân y, anh công binh xây dựng cầu cống hoặc anh giảng viên quèn như bản thân tôi. Tất cả, dù dưới hình thức này hay hình thức khác, đều là… “kẻ thù của nhân dân”!

Ngay buổi học tập chính trị đầu tiên chúng tôi đã bị một cú sốc lớn về văn hóa của “chính uỷ” tiểu đoàn. Đó là một loại “cultural shock” mà tôi không thể nào quên. Trước một tập hợp những người cải tạo từ các đội trong một hội trường lớn, ông quản giáo phụ trách chính trị đã “lên lớp” các sĩ quan cải tạo. Đại khái như sau:

“Đế quốc Mỹ chính là con đỉa hút máu… chúng hút máu nhân dân Mỹ bằng những tay trùm tư bản lên nắm quyền Tổng thống, cai trị nhân dân lao động. Ford là Tổng thống nhưng trước đó hắn là chủ nhân công ty sản xuất xe ô-tô… thì là sao mà có chuyện thương người lao động chân tay, khổ cực, lầm than…” 

Vấn đề là vị quản giáo trên bục giảng đã quá coi thường những sĩ quan cải tạo. Ít nhất họ cũng là những người có trình độ từ tú tài trở lên nên thừa hiểu biết Henry Ford, người sáng lập Công ty Ford Motor, đã qua đời từ năm 1947… còn đương kim Tổng thống Gerald Ford là kẻ hậu sinh, được bầu là Tổng thống thứ 38 của Hoa Kỳ, năm 1974.

Một chuyện thuộc lại “tiếu lâm” khác cũng xảy ra tại một trại học tập cải tạo ở miền Nam. Khi thuyết trình về tình hình chính trị quốc tế tại Trung Đông, có một quản giáo đã nói đến hai nước “Một La Mã Răng” và “Một La Mã Rắc” trước sự ngạc nhiên của người cải tạo. Mãi sau này mới hiểu đó là các nước Iran và Iraq.

Phải thành thật nhìn nhận, trình độ hiểu biết về chính trị của các cán bộ quản giáo rất yếu kém. Tuy nhiên, khi giảng về đạo đức các vị vẫn thuộc nằm lòng câu nói của người xưa, “Đánh kẻ chạy đi, không đánh người chạy lại”. Có điều những người “chạy lại” bị tập trung rất lâu trong trại.

Ngày tàn cuộc chiến

Những ngày đầu chúng tôi đều tin tưởng rằng mình sẽ được trở về sớm nhưng có người phân tích: thông cáo bảo mang theo lương khô đủ dùng trong thời gian 10 ngày… chứ đâu có nói “học tập 10 ngày”!

Anh em lại hy vọng chắc đến 2/9/1975 là ngày Quốc khánh sẽ được về nhưng tất cả đều thất vọng vì có lệnh của tiểu đoàn phải cuốc đất trồng rau, tăng gia sản xuất để “cải thiện” bữa ăn. Như vậy là đồng nghĩa với việc “yên tâm cải tạo” và chờ… khi nào cải tạo tốt thì được trại cho về!

Một ngày trong trại cải tạo được bắt đầu với tiếng kẻng đánh thức vào lúc 5 giờ sáng. Người cải tạo cũng như cán bộ “khung” trên tiểu đoàn đều thức dậy để chào ngày mới bằng những động tác thể dục mà chúng tôi gọi vui là theo kiểu… “chim bay, cò bay”.

Trước khi chấm dứt bài thể dục, cán bộ trên tiểu đoàn hô khẩu hiệu “Rèn luyện thân thể. Bảo vệ tổ quốc”. Còn chúng tôi, những người cải tạo chưa được chính thức có quyền công dân nên khẩu hiệu hơi khác đi: thay vì “Bảo vệ tổ quốc” mọi người phải sửa thành… “Học tập tốt”!

Sau màn thể dục là thời gian làm vệ sinh cá nhân. Nước thì đã có giếng, được kéo lên bằng những sợi dây bện bằng sợi nylon của bao cát. Chúng tôi may mắn vì trong căn cứ của Sư đoàn 25 có cả một kho bao cát chưa sử dụng, anh em tha về, tháo những sợi nylon rồi bện thành dây để kéo nước từ giếng lên. Có người khéo tay còn “sáng chế” ra áo khoác hay mũ đội đầu bằng bao cát. Cái khó không bao giờ bó cái khôn!

Tùy theo lịch làm việc đã được quản giáo thông báo với “đội trưởng” (cũng là người cải tạo), công việc trong ngày được phân công đại khái như sau: toán “lao động vườn rau” làm công việc “thu gom” phân và nước tiểu để chăm bón cây. Đây là một công tác không đòi hỏi sức khỏe nhưng lại rất… “nặng mùi”!

Toán “lao động chính” chờ vệ binh xuống để dẫn đường đến các điểm được chỉ định. Có thể đến Phi đạo L19 để dọn dẹp. Căn cứ Trảng Lớn ngày xưa có một phi trường nhỏ dành cho phi cơ L19, mặt phi đạo được lót bằng những tấm vỉ sắt dài, có những lỗ hình tròn. Cứ 6 người tha một vỉ sắt dài để mang về đội.

Những nhà thiết kế vỉ sắt không ngờ ngoài việc làm tấm lót phi đạo thay cho nhựa đường và xi măng lại còn có những công dụng mà họ chẳng bao giờ nghĩ tới. Đối với người cải tạo, vỉ sắt được dùng trong rất nhiều việc: làm “tường” vây các hố tiêu, tiểu… làm sàn nước quanh giếng để tắm rửa, giặt giũ.

Cũng tại phi trường bỏ hoang, chúng tôi săn nhặt những mảnh nhôm còn sót lại để đem về trại và “chế tác” thành những vật kỷ niệm cải tạo mà có lẽ chỉ Trảng Lớn mới có. Đó là những chiếc lược nhôm “Made in Trảng Lớn” mà người cải tạo sau này đem về tặng những người thân, người tình hoặc giữ lại cho chính mình.

Trong đội của tôi có một anh nguyên là kỹ sư công binh, có nghĩa là anh khéo tay chế biến các vật kỷ niệm trong điều kiện vô cùng thiếu thốn các dụng cụ để chế tác. Trước hết là công đoạn cắt mảnh nhôm thành hình những đồ vật mà mình tưởng tượng trong trí: chẳng hạn như một cái lược.

Kỷ vật trại cải tạo

Nhôm là kim loại rất dễ uốn nắm chứ không cứng như sắt hoặc thép. Chỉ cần một cây sắt mài nhọn ta có thể khắc những hoa văn, hình ảnh hay chữ viết trên tấm nhôm kỷ niệm. Người cải tạo chúng tôi gọi công việc này là “xủi”, có nghĩa là khắc họa trên tác phẩm.

Chỉ cần một người chuyên môn như “ông thầy công binh” biết cách chế tác là cả đội có thể học lóm và những ngày nghỉ cuối tuần đội cải tạo biến thành một “xưởng thợ”, sản xuất những mặt hàng kỷ niệm để mai này về tặng lại cho người thân. Vật kỷ niệm trở thành vô giá. Ông bà ta thường nói “Của một đồng, công một nén” nhưng có lẽ trong trường hợp này giá trị tinh thần còn cao hơn thế nữa. 

Công tác lao động “nặng” nhất là việc dọn dẹp phía trong hàng rào chung quanh căn cứ đã bị bỏ hoang một thời gian. Trong chiến tranh, hàng rào phòng thủ thường gài mìn để ngăn ngừa xâm nhập. Thế là đã có những vụ nổ mìn do bất cẩn và kết quả là… từ bị thương cho đến chết.

Kinh khủng nhất là loại “lân tinh”, chiếu sáng nhờ chất phốt-pho. Một khi phát nổ, hóa chất có thể dính vào thân thể và cứ thế ăn mòn da thịt. Âu cũng là số mạng. Chiến tranh 20 năm qua không chết mà lại chết trong thời bình!

Súng đạn lúc nào cũng vô tình nên một quả M79 sau khi được bắn ra chưa đủ vòng quay nên chưa nổ… chỉ cần vô tình đụng nhẹ cũng đủ kích động. M79 vốn được thiết kế để phá hủy sắt thép thì làm sao con người bằng xương, bằng thịt có thể sống sót!

Quả đạn M79 là một thứ vũ khí mang lại sự chết chóc… nhưng cũng chính ống phóng của quả đạn này dưới bàn tay “đa năng, đa hiệu” của người cải tạo cũng có thể trở thành một kỷ vật đầy ý nghĩa để đánh dấu chuỗi ngày học tập, mất hẳn quyền tự do tối thiểu.

Ngày ra trại, trong hành trang của tôi lúc trở về với cuộc sống bình thường có hai vật kỷ niệm: một chiếc lược nhôm và một chiếc vòng có “xủi” 6 cái tên trong gia đình làm từ ống phóng M79. Những kỷ vật vô giá này đã truyền lại cho đời cháu để nhớ lại những gian khổ mà bản thân tôi đã phải vượt qua.

Chiếc vòng bằng ống phóng M79 có khắc tên kỷ niệm 6 người thân

Tôi thuộc loại người luôn “lạc quan” trong bất cứ hoàn cảnh khó khăn nào. Triết lý sống của tôi thật đơn giản như chuyện “Tái ông thất mã” trong Cổ học Tinh hoa. Ông già họ Tái không buồn khi mất đi con ngựa, đến khi con ngựa trở về mang theo một ngựa con ông cũng chẳng vui khi hàng xóm đến chúc mừng. Con trai cưỡi ngựa bị té gãy chân, hàng xóm đến chia buồn nhưng ông bảo ông vẫn dửng dưng không coi đó là xui xẻo. Quả nhiên, vì bị gãy chân nên con trai ông không phải tòng quân!

Vui – Buồn, Vinh – Nhục, Họa – Phước cứ đến rồi đi, cứ lên rồi xuống tựa như một chuyển động hình Sin. Người ý thức được sự tuần hoàn trong vũ trụ sẽ có một thái độ dửng dưng, an nhiên tự tại trước những biến cố của cuộc đời. Cười người chớ vội cười lâu, cười người hôm trước, hôm sau… người cười!

Người cải tạo sinh hoạt trong một môi trường khép kín, vây quanh bởi lớp hàng rào kẽm gai, cách biệt với cuộc sống bên ngoài xã hội. Tuy nhiên, đó cũng lại là một trong những lý do khiến chúng tôi cảm thấy gần gũi với nhau hơn. Trong bối cảnh một xã hội cùng cực luôn xuất hiện những người bạn chí cốt, những người đã chia sẻ buồn vui trong quãng đời hoạn nạn, điêu linh.

Có thể nói, học tập cải tạo đã dậy cho tôi, không phải là những bài học chính trị, mà là ý nghĩa của của hai chữ “bạn bè”. Người ta thường lẫn lộn giữa Bạn và Bè. Ta thường nghĩ “tứ hải giai huynh đệ” nhưng thật ra có những người không phải là bạn mà chỉ là bạn nhậu, bạn chạy áp phe… giữa một xã hội xô bồ.

Bạn cải tạo không phải là vậy. Chỉ sau một thời gian ngắn tôi đã tìm ra những người bạn “chí cốt” mà gần nửa thế kỷ sau này mỗi khi có dịp gặp lại vẫn thấy tình bạn nồng ấm như những ngày còn trong trại học tập. Theo tôi, một trong những nguyên tắc để có được một tình bạn như vậy nằm trong hai chữ “vị tha”.

Nhớ lại ngày còn mới chập chững làm quen với xã hội khép kín, miếng ăn bao giờ cũng là mối quan tâm hàng đầu của những cái bao tử lép kẹp. Cơm được lãnh từ “anh nuôi” về theo từng thau, cứ 5 người một thau. Làm sao để chia thau cơm thành 5 phần đều nhau là cả một bài toán khó.

Thau cơm được cắm một chiếc đũa ngay giữa tâm của thau, từ đó vẽ ra 5 đường thẳng chia thành 5 phần giữa 10 con mắt theo dõi một cách chăm chú. Người đứng chia sẽ là người cuối cùng nhận phần cơm nên phải cố chia cho đều, nếu mình không muốn nhận phần nhỏ nhất. Ai cũng hiểu “miếng ăn là miếng tồi tàn” nhưng biết làm thế nào trong hoàn cảnh này?

Thau cơm của 5 anh em chúng tôi không chia đều mà “tự giác” mỗi người xúc cho mình một chén, phần còn lại để dành cho bữa “ăn sáng” ngày mai. Đó quả là một quyết định phải nói là “phi thường” trong tình hình đói kém.

Ngày xưa, một trong những khẩu hiệu trong quân đội là “tự thắng để chỉ huy”. Câu chuyện “chia cơm” được kể lại ở đây với hàm ý khi con người tự thắng được dục vọng của chính mình sẽ trở thành vị tha đối với bạn bè đồng cảnh ngộ. Thế cho nên, tình bạn mang nhiều ý nghĩa khiến sau này gặp lại nhau vẫn không thể nào quên.

Tôi vốn là người không có sức khỏe cường tráng như các đồng đội khác nên những người bạn cải tạo sẵn sàng hỗ trợ khi gặp những trường hợp phải dùng sức lao động nặng. Có bạn còn an ủi: “Cứ làm ‘thợ vịn’ cũng được rồi!”.

Tuy mang cái tên “thợ vịn” nhưng những lúc rảnh rỗi cũng làm “thầy” khi giúp các bạn học thêm Anh văn để mở mang kiến thức! Tôi cũng là “học trò” của một anh bạn giỏi chữ Hán. Không có tài liệu nên “thầy” dậy viết theo cách “nhớ tới đâu, dậy tới đó”. Chúng tôi chỉ dùng que để viết trên đất. Thế là đủ!

Tôi cũng có một thời gian bị bệnh tại Trảng Lớn: đau thắt bên lưng và đi tiểu gắt. Mấy bác sĩ quân y cải tạo định bệnh ngay là sạn thận vì hậu quả của việc lao động nặng. Lên bệnh xá khai bệnh với y tá nhưng làm gì có thuốc trị bệnh nên lại về. Bác sĩ cải tạo bảo phải đào rễ tranh để nấu nước uống sẽ có hy vọng tống được cục sạn ra ngoài.

Khi được viết thư về gia đình tôi chỉ nhắn ráng tìm “râu bắp” đem vào. Ở nhà không hiểu tại sao nhưng cũng đem thật nhiều… râu bắp. Quả nhiên, uống nước râu bắp và rễ tranh rất “lợi tiểu” và kết quả là hòn sạn không biết đã tự tiêu hủy hay đã thoát ra ngoài cùng nước tiểu. Đó là phương thuốc “khắc phục” còn hiệu quả hơn là thuốc “Xuyên Tâm Liên” ngày đó. 

Kỷ vật trại cải tạo với cán lược chạm trổ

Người cải tạo trước khi vào trại thuộc đủ thành phần trong xã hội, vì hoàn cảnh nên bị động viên vào quân ngũ. Có anh còn có tài kể chuyện, anh kể vanh vách các tác phẩm của Kim Dung nên tối tối chúng tôi quây quần nghe hết “Cô gái Đồ Long”, “Anh hùng xạ điêu”, “Lục mạch thần kiếm” và cả truyện 9 lần vượt ngục của Papillon!

Những buổi nghe truyện như vậy kéo dài đến 9 giờ đêm khi trên trung đoàn tắt đèn và kẻng báo đã đến giờ đi ngủ. Hôm nào người kể truyện “khó ở trong mình” (hay cũng có thể là cần thời gian để “hệ thống hóa” cuốn truyện trong đầu), anh thông báo: “Tối nay không có phim vì… Hồng Kông chưa đem qua!”.

Người cải tạo còn làm được cả đàn guitar để hát nhạc vàng… nhưng khi quản giáo xuống sẽ đổi sang… “nhạc hồng”, chẳng hạn như bài “Nếu là chim…”. Đó là lời bài hát có tên “Tự nguyện” của Trương Quốc Khánh, sáng tác năm 1970 tại miền Nam trong phong trào phản chiến.

Cách mạng rất thích “Tự nguyện” vì lời bài hát dựa theo ý của một người Cộng sản Phương Tây. Bài hát đặt ra 3 giả dụ bắt đầu bằng chữ “Nếu…”: là chim, là hoa, là mây và cuối cùng “nếu là người” thì sẽ chết cho quê hương. Cũng có người cắc cớ hỏi, vậy chứ đặt ra giả thiết “nếu là người” hàm ý gì? Chắc trước đây không phải là người nên mới có chữ “Nếu”?  

Ca sĩ trong những đêm ca nhạc “chui” đều là “cây nhà, lá vườn”. Có những giọng ca ngọt ngào chẳng kém gì Sĩ Phú, Tuấn Ngọc hay Elvis Phương… và có những tay đàn điệu nghệ không thua gì “ọc-két vi-văng” trong vũ trường ngoài đời. Ban nhạc lại còn được được giữ nhịp bằng hai chiếc muỗng… dã chiến.

Chúng tôi tìm vui cho qua ngày, đoạn tháng vì giờ đã biết ngày về vô định. Gần Tết có lệnh trên tiểu đoàn: tất cả tập họp mang theo toàn bộ tư trang. Có người mừng thầm… không biết chừng… được về. Tuy không tin nhưng sâu kín trong lòng… tôi hy vọng như vậy.

Thỉnh thoảng vẫn có những lần kiểm tra vật dụng cá nhân nhưng lần này khác hẳn. Buổi tập họp này rất lạ, cán bộ đọc danh sách, ai được gọi tên đứng sang một bên. Gọi tên những người về chăng? Tôi không được gọi tên, các bạn trong cùng “thau cơm” cũng chẳng có ai, số người được gọi tên khoảng 20 người.

Tại trại, thành phần cải tạo có thể chia thành 2 loại chính: (1) loại lính văn phòng có chuyên môn kỹ thuật như bác sĩ quân y, kỹ sư công binh, giáo sư biệt phái… và (2) lính tác chiến như “giặc lái” Không quân, “giặc nói” Tâm lý chiến, “lính thủy đánh bộ” Thủy quân Lục chiến, “cọp ba đầu rằn” Biệt động quân, “thiên thần mũ đỏ” Nhảy dù…

Mãi cho đến bây giờ, hình như trại đang làm công việc phân loại tù nhân vì đa số những người được gọi tên thuộc nhóm thứ hai. Họ được lệnh di chuyển lên sân tiểu đoàn, có xe Molotova chờ sẵn và thế là… giã từ Trảng Lớn. Giã từ “hòm thư” 7595, “bí số” L1T5!

Mãi sau này tôi mới biết, họ được chở về Sài Gòn nhưng đó không phải là điểm đến cuối cùng. Họ tiếp tục cuộc hành trình từ bến tàu và trực chỉ… đảo Phú Quốc. Thân phận tù đầy như thế đó.

Papillon cũng đã qua nhiều lần chuyển trại tại các đảo tận ngoài khơi Thái Bình Dương. Người cải tạo được ra đảo Phú Quốc có lẽ còn may mắn hơn những người “được” đi xe lửa ra tận miền Bắc để về những nơi “sơn lam chướng khí”. Chúng tôi, những người ở lại Trảng Lớn, lại là những người may mắn nhất trong số những người bất hạnh.

Bất hạnh nhất là anh Ngô Nghĩa, sĩ quan pháo binh, đã bị xử bắn sau khi kế hoạch “trốn trại” không thành. Anh bị hành quyết trước sự chứng kiến của đại diện các đội. Những người tham dự buổi hành quyết hôm đó về kể lại cho anh em trong đội từng chi tiết. Đó cũng là thâm ý của trại muốn nhắn nhủ người cải tạo: Trốn trại là tìm đường chết!  

Tôi thấy số phận của anh Ngô Nghĩa còn bi thảm hơn Papillon sau 9 lần vượt ngục vì kết cuộc vẫn tìm được Tự do. Còn Ngô Nghĩa của chúng tôi đã bỏ xác tại Trảng Lớn. Tôi vẫn thắc mắc, sau này thân nhân của anh có tìm được nấm mộ đắp sơ sài, không bia đánh dấu chứ chưa nói gì đến nhang khói?

Khi học tập đã lâu, và chắc cũng đã “thông suốt”… chúng tôi được chuyển sang một trại mới có tên Trảng Táo. Không ngờ cuộc đời mình cứ loanh quanh ở các trảng, hết Trảng Lớn lại đến Trảng Táo.

Tuy nhiên, người cải tạo vẫn thấy “hồ hởi” vì theo cán bộ, chúng tôi được “đưa ra ngoài lao động thật sự” để chờ ngày về. Mà “vui” thật! So với Trảng Lớn về các tiện nghi sinh hoạt thì Trảng Táo chẳng có gì nhưng lại nằm gần ga Gia Huynh có nghĩa là gần với xã hội bên ngoài. Công tác lao động đầu tiên là vào rừng lấy lá về dựng lán trại.

Vui nhất là được tiếp xúc với “thế giới bên ngoài” khi nhìn những chuyến tầu qua lại. Những chuyến xe lửa từ trong Nam ra ngoài Bắc hay ngược lại, chúng tôi gọi là “những chuyến tầu ma” trên đường sắt Thống Nhất. “Những con ma trên tầu” yên lặng nhìn “những con ma vác lá bên đường rầy”. Không một cái vẫy tay chứ chưa nói gì đến một nụ cười… thông cảm.

“Những chuyến tầu chợ” thì khác hẳn. Luôn luôn để lại cho người cải tạo nhiều ý nghĩa vì khách trên tầu là người miền Nam, có lẽ họ đi buôn để kiếm đồng ra đồng vào. Cũng có thể họ đi thăm bà con tại các tỉnh nhưng điều quan trọng là họ biểu thị sự thông cảm với hoàn cảnh của những người cải tạo bằng những cái vẫy tay. Chúng tôi cũng vẫy tay lại.

Tôi chưa gặp trường hợp hi hữu này nhưng qua lời kể lại của những bạn cùng trại, người cải tạo còn nhận được quà gói trong bọc nylon từ những người khách quăng xuống từ trên tầu. Khi thì vài cục đường tán, khi thì một bịch thuốc rê… Đó là tấm lòng của người miền Nam, dù cũng đói khổ nhưng cũng thể hiện tinh thần… “lá rách đùm lá nát”!

Cũng có thể chính người khách trên tầu là thân nhân của người cải tạo đứng bên đường ray nên tìm cách tiếp tế cho những người đồng cảnh ngộ. Quà không địa chỉ chính xác nhưng cũng đến tay người cần. Đó là tính nhân bản của người miền Nam vốn hiền lành, chất phác.

Công việc dựng lán trại vừa xong, kế tiếp là việc khai hoang trồng khoai mỳ chứ không trồng rau như ở Trảng Lớn. Chế độ thăm nuôi cũng có phần cởi mở hơn xưa, các món đồ khô để dành ăn dần được gia đình tiếp tế trong những lon mà ngày xưa dùng để đựng sữa Guigoz.

Cũng như các tấm vỉ sắt như đã nói ở trên, các nhà thiết kế lon Guigoz sẽ không thể nào tưởng tượng được công dụng tuyệt vời của nó trong thời điêu linh tại Việt Nam. Lon Guigoz đối với người cải tạo chẳng khác gì cái cặp Samsonite mà các doanh nhân giàu có thường kè kè bên mình.

Ngoài những “ca, cóng linh tinh” mà người cải tạo đã bỏ công ra “gò” từ những mảnh tôn, lon Guigoz cũng được sử dụng như một cái nồi để nấu nước sôi. Đặc biệt lon lại vừa khít, nằm lọt thỏm trong bếp làm bằng vỏ đạn đại bác 105 ly!

Chỉ cần đục một lỗ cho củi và 2 cọng thép chắn ngang làm giá giữa “nồi Guigoz” và lò là ta sẽ có sự ăn ý tuyệt hảo mà các nhà sáng chế chưa bao giờ nghĩ ra. Chúng hợp nhau đến từng centimét!

Lon Guigoz trong thời điêu linh

Những ý tưởng sáng tạo ngay cả cán bộ quản giáo cũng phải… ngả nón cối bái phục. Thế cho nên, một anh quản giáo mang gỗ xuống nhờ cải tạo đóng “một cái thùng để dê non”. Chỉ trong vòng một ngày anh nhận được “tác phẩm” nhưng anh lại không vừa ý: “Cái thùng như vậy làm sao mà bỏ dê non vào được?”.

Mãi lát sau anh mới giải thích vừa mới tậu được cái máy vô tuyến truyền hình hiệu “dê non” chứ đâu có nuôi dê non. Và cũng mãi lúc sau người cải tạo mới hiểu. Thì ra anh vừa mua được một cái TV hiệu Denon “second hand” ngoài chợ trời nên muốn đóng một cái tủ đựng TV như ngày xưa người miền Nam thường có!  

Chúng tôi sống bên đường rầy xe lửa ở Trảng Táo cho đến ngày được trở về đời thường, tính ra cũng gần tròn 3 năm. Thế vẫn còn may mắn nếu so với Đại tá Nguyễn Công Vĩnh, người có “thâm niên” cải tạo 13 năm tại miền Bắc. Ông sinh năm 1930 tại Long An và từ trần vào tháng 2/2017 tại Newport Beach, California, hưởng thọ 87 tuổi.

Ngày trở về của Đại tá Nguyễn Công Vĩnh

Những chuyện buồn-vui thời cải tạo được ghi lại theo hồi ức của một người nay đã ngoài 70. Cái tuổi “thất thập cổ lai hy” thường bị mắc chứng dễ quên hay nói cho chính xác là “nhớ đó, quên đó”.

Với tinh thần đó, tác giả xin góp nhặt chuyện buồn-vui thời điêu linh để thế hệ con cháu giữ làm kỷ niệm. Có điều chi sơ suất xin người đọc niệm tình bỏ qua.

Giấy Ra Trại ký ngày 15/9/1977 nhưng phải qua đến năm 1978 mới đến tay người cải tạo. Địa chỉ trình diện là Đà Lạt nơi bố mẹ sinh sống trong khi vợ con lại ở Sài Gòn. Chính quyền khi đó thực hiện chính sách “giãn dân”, hạn chế tối đa người cải tạo trở về Sài Gòn.

***


--> Read more..

Thứ Tư, 8 tháng 11, 2017

Đồng ngũ, Đồng nghiệp, Đồng tuế…

Chắc các bạn còn nhớ, trong một bài viết gần đây với nhan đề “Con người có thể là… “Di sản Sài Gòn” (http://chinhhoiuc.blogspot.com/2017/10/con-nguoi-co-la-di-san-sai-gon.html) tôi có nhắc đến một entry trên Facebook của Candy Nguyen qua “Đài Quan sát Di sản Sài Gòn - Saigon Heritage Observatory”. Đó là bài về nhân vật Michael Burr với tựa đề “Michael Burr - American Veteran in Saigon”.

Michael Burr tại Sài Gòn, 2017

Tôi chú ý đến Michael Burr vì anh đã từng phục vụ tại Sài Gòn (thời gian 1969-1970) với chức vụ Giảng viên trường Sinh ngữ Quân đội, dạy Anh văn cho khóa sinh Không quân VNCH. Dù chưa bao giờ gặp nhau, tôi thấy giữa tôi và Michael có những điểm tương đồng về nhiều mặt.

Thứ nhất, dù có quốc tịch khác nhau, cả hai chúng tôi đều phục vụ dưới hai màu cờ nhưng đều là chứng nhân của cuộc chiến tại Việt Nam. Thế cho nên có thể nói rộng ra: chúng tôi là “Đồng Ngũ”, tham chiến trong một giai đoạn lịch sử của Việt Nam.

Thứ nhì, hai chúng tôi đều phục vụ tại trường Sinh ngữ Quân đội (Sài Gòn) vào cùng thời kỳ nhưng lại chưa từng gặp nhau vì khi đó Trường Sinh ngữ có rất nhiều chi nhánh dạy tiếng Anh cho quân nhân thuộc Hải – Lục – Không quân. Như vậy, cũng vẫn là “Đồng Nghiệp” dưới một mái trường!

Thứ ba, cả hai chúng tôi đều sinh năm 1946. Chúng tôi thuộc thế hệ mà người Mỹ gọi là “baby-boomer”, một thuật ngữ ám chỉ những người sinh ra sau thế chiến thứ hai 1939-1945. Năm 1946 là thời điểm những người lính tham gia chiến tranh trên khắp thế giới được trở về nhà, sống cuộc đời dân sự và… góp phần tạo ra một thế hệ “bùng-nổ-trẻ-con”. Chúng tôi thuộc thế hệ đó và như vậy, cũng có thể nói, chúng tôi là bạn “Đồng Tuế”.

Michael Burr bên tấm hình chụp năm 1970 tại Việt Nam, trước khi về Hoa Kỳ

Mãi đến hôm nay (4/11/2017) chúng tôi mới gặp nhau tại Sài Gòn. Hai “ông già” ngồi bên ly cà phê, nói chuyện xưa miên man vì có nhiều điểm chung của những người đồng ngũ, đồng nhiệp và đồng tuế.

Mike đem theo laptop để tôi được chứng kiến lại hình ảnh xưa của Tổng tham mưu, Cổng xe lửa số 10, đường Võ Di Nguy… Hình ảnh những khóa sinh Không quân, xếp hàng nghiêm chỉnh đi từ “Tent City” trong phi trường Tân Sơn Nhất sang trường để đến những lớp học vốn là những căn nhà tiền chế trong Tổng tham mưu.

Bên cạnh đó còn có những hình ảnh Sài Gòn cuối thập niên 60 mà Mike đã ghi lại, trong số đó có nhiều ảnh tôi đã từng xem trên internet nhưng mãi đến bây giờ mới biết tác giả là người ngồi bên cạnh. Michael Burr sau này là một nhiếp ảnh gia có ảnh triển lãm “Images of Vietnam 1969-1970” tại Westminster, California (*).


Tác phẩm nhiếp ảnh kỷ niệm về Sài Gòn do Michael Burr thân tặng

Mike cũng là một thành viên trong nhóm cựu giảng viên người Mỹ đã thực hiện cuộc thăm viếng Căn cứ Không quân Lackland tại San Antonio, Texas. Lackland là cái tên quen thuộc với các giảng viên vì có chi nhánh của Defense Language Institute (DLI), nơi các giảng viên người Việt tu nghiệp chuyên môn về giảng dậy. DLI cũng đồng thời là nơi bổ sung tiếng Anh căn bản cho các khóa sinh quân nhân VNCH trước khi bước vào huấn luyện chuyên môn tại Hoa Kỳ.

"Di sản Sài Gòn" còn lưu giữ

Anh kể lại trong lần thăm Lackland vào năm ngoái, những thành viên cựu binh Mỹ đã được DLI mệnh danh là “Pioneers” của trường vì những đóng góp tiên phong trong việc giảng dạy tiếng Anh cho quân lực VNCH vào cuối thập niên 60.

Điều này khiến tôi lại nghĩ, họ cũng là những người bạn đồng minh và họ chính là cái mà tôi gọi là “Human Heritage of Saigon”. Viết vài dòng về Michael Burr tôi muốn nhấn mạnh những người như anh cũng thực sự là “Di sản của Sài Gòn”, một thành phố đã trải qua nhiều buồn vui của một thời chiến tranh.

Huy hiệu Trường Sinh ngữ Quân đội dưới dạng “tie pin” (kẹp cravate) do tôi thân tặng Michael Burr

***

Chú thích:

(*)  Bài viết về cuộc triển lãm ảnh của Michael Burr trên báo Người Việt năm 2012:

Việt Nam thời 1969-1970 qua ống kính Michael Burr

Monday, October 08, 2012
Linh Nguyễn/Người Việt

WESTMINSTER (NV) - Khoảng 50 tác phẩm của nhiếp ảnh gia Michael Burr, một cựu chiến binh Việt Nam, sẽ được triển lãm từ 11 giờ sáng đến 7 giờ tối, vào hai ngày, Thứ Bảy và Chủ Nhật, 13 và 14 Tháng Mười tại phòng sinh hoạt của Nhật Báo Người Việt, 14771 Moran St., Westminster, CA 96283.

“Tôi đã về Việt Nam ba lần vào những năm 2003, 2005 và 2006. Mỗi chuyến tôi đi hai tuần lễ,” ông Michael Burr cho phóng viên Người Việt biết qua điện thoại.

Ông nói thêm: “Cho đến nay tôi đã đi thăm và ghi lại hình ảnh tại các nơi ở Việt Nam, từ Bắc chí Nam, như Hà Nội, Cam Ranh, Huế, Ðà Nẵng, Sàigòn, Củ Chi, Cần Thơ, Châu Ðốc, Hà Tiên...”

Ông rất mong được đón tiếp nhiều người Việt đến thăm phòng triển lãm vào cuối tuần này. “Tôi chuẩn bị rất công phu để ra mắt giới thưởng ngoạn, đến xem và để tìm lại những hình ảnh thân quen của Sài Gòn ngày xưa,” nhiếp ảnh gia này nói. Ông cũng cho biết rằng ông đang chuẩn bị một chuyến thăm Việt Nam vào năm tới.

Nhiếp ảnh gia Michael Burr phục vụ một năm trong quân chủng Không Quân Hoa Kỳ, với vai trò giảng viên Anh ngữ cho Không Quân Việt Nam Cộng Hòa, từ Tháng Chín năm 1969 đến Tháng Chín năm 1970. Triển lãm của ông bao gồm các bức ảnh đen trắng, miêu tả cuộc sống ở Sài Gòn và vùng phụ cận trong thời gian đó. Chương trình triển lãm từng ra mắt tại Hội Chợ Tết năm 2002 và được triển lãm nhiều lần tại Westminster và Garden Grove trong 10 năm qua, và được phản ánh rất tích cực từ cộng đồng Việt Nam.

Ông chia sẻ: “Cuộc triển lãm sẽ cung cấp cái nhìn chua cay và say mê về cuộc sống tại Việt Nam trong những năm chiến tranh và có sức hấp dẫn phổ cập, không phân biệt tuổi tác và hoàn cảnh. Không giống như nhiều cuộc triển lãm về Việt Nam ở bối cảnh thời gian đó, cuộc triển lãm này không có những hình ảnh bạo lực trong các tác phẩm.”

Cuộc triển lãm do Nhật Báo Người Việt bảo trợ.

  



***
--> Read more..

Thứ Ba, 31 tháng 10, 2017

Tạp chí Bách Khoa được “số hóa” toàn bộ

* Chúng tôi vừa nhận được tin toàn bộ nội dung Tạp chí Bách Khoa (1957-1975) đã được “số hóa” bằng đĩa CD qua bài viết của Phạm Phú Minh.

***

Thời trước 1975 ở miền Nam báo chí tư nhân rất phong phú, nhất là từ sau năm 1963 thì nhật báo và các tạp chí xuất hiện rất nhiều. Nhưng những ai theo dõi tình hình báo chí cả hai thời kỳ Đệ nhất và Đệ nhị Cộng Hòa thì đều thấy tờ báo tồn tại lâu dài nhất của miền Nam Việt Nam chính là tờ bán nguyệt san BÁCH KHOA: số 1 ra đời vào ngày 15 tháng 01 năm 1957, số cuối cùng 426 ra ngày 19 tháng 4 năm 1975.

Hôm nay chúng tôi xin loan báo một tin vui, là sau nhiều năm cố gắng, một nhóm bạn bè của báo mạng Diễn Đàn Thế Kỷ đã sưu tầm đầy đủ toàn bộ báo Bách Khoa, chỉnh đốn lại để thành một bộ báo số hóa có thể phổ biến cho mọi người.

VCD Data toàn bộ tạp chí Bách Khoa đã được số hóa

Chúng ta đều biết sau biến cố năm 1975, tất cả sách vở báo chí của miền Nam đều là mục tiêu thiêu hủy của bên phía cộng sản thắng cuộc, nên dù trước kia các thư viện của Việt Nam Cộng Hòa đều có hầu như đầy đủ các loại sách báo của cả nước, chỉ một thời gian sau đều trở thành tan tác, rỗng tuếch để thay thế vào đó là các sách báo của phe cộng sản. Ngay các tủ sách gia đình của dân chúng miền Nam cũng luôn luôn bị đe dọa hoặc bị trực tiếp tịch thu đốt phá, bất kể là loại sách báo gì.

Việc chúng tôi nghĩ nên làm ngay sau khi hoàn tất việc sưu tầm là đến thăm ông Huỳnh Văn Lang, Chủ Nhiệm Sáng Lập tạp chí Bách Khoa để kính tặng ông đĩa DVD chứa đựng toàn bộ 426 số báo đã được điện tử hóa. Chiều ngày 16 tháng 10, 2017 vừa qua anh Trần Huy Bích và tôi đã tới thăm ông Huỳnh Văn Lang tại nhà ông trong thành phố Westminster, Nam California, rất mừng thấy ông tuy đã ở tuổi 96, vẫn tương đối mạnh khỏe, nhất là tinh thần còn rất sáng suốt.

Ông đã rất vui và cảm động nhận đĩa DVD chứa toàn bộ báo Bách Khoa do chúng tôi tặng, và nói: “Với công trình tìm tòi và lưu giữ như thế này, tạp chí Bách Khoa sẽ an toàn tồn tại nhiều trăm năm về sau”.

Và chúng tôi đã được vị sáng lập tờ Bách Khoa kể lại không biết bao nhiêu là “chuyện xưa tích cũ”, thời gian từ Mỹ mới về nước để giúp ông Ngô Đình Diệm xây dựng chính quyền, những ngày đám chuyên viên trẻ tuổi còn “ngủ ghế bố” trong dinh Gia Long cho đến khi Thủ Tướng dời vào dinh Độc Lập. Mỗi câu chuyện như thế đối với tôi là một mảng lịch sử, qua giọng kể Nam Kỳ hấp dẫn và chân thành của ông. Thú vị nhất là ý tưởng lập hệ thống các trường Bách Khoa Bình Dân, rồi hội Văn Hóa Bình Dân để sau cùng là tạp chí Bách Khoa chào đời.

Ông Huỳnh Văn Lang là người sáng lập, là Chủ nhiệm kiêm Chủ bút của Bách Khoa từ số ra mắt cho đến cuộc đảo chánh 1963 chấm dứt Đệ Nhất Cộng Hòa. Ông nói: “Ngay khi quyết định ra báo, 30 thành viên của hội Nghiên cứu Kinh tế Tài chánh mà tôi đứng đầu mỗi người góp 1000 đồng (trừ một vị chỉ góp 500) để làm vốn. Hồi đó 30,000 đồng là một số tiền lớn, nhưng khi bắt tay làm báo thì tiền in nó ngốn mau lắm, tôi phải xoay xở liên tục cho đến khi tờ báo ổn định...”

Qua buổi gặp gỡ và trò chuyện với ông Huỳnh Văn Lang, tôi hình dung ra hoạt động của một nhóm trí thức trẻ cách đây 60 năm, đồng lòng xắn tay áo lao vào những công việc cụ thể, trong buổi bình minh của một vận hội mới mẻ cho vùng phía Nam của đất nước.

Ông Huỳnh Văn Lang (bên phải), với DVD Bách Khoa trên tay, đang trò chuyện với Phạm Phú Minh.. (Ảnh Trần Huy Bích)

Cho tới nay, Bách Khoa là tờ báo tư nhân sống lâu nhất trong lịch sử báo chí Việt Nam. Tờ sống lâu thứ nhì là tạp chí Nam Phong của học giả Phạm Quỳnh, ra đời vào tháng Bảy năm 1917, đình bản ở số 210, ngày 10 tháng Mười Hai năm 1934. Trên Nam Phong số cuối này có dòng chữ Năm thứ mười tám, nhưng đó là chỉ mới bước vào năm thứ 18 thôi, trong thực tế Nam Phong thọ 17 năm 5 tháng.

Trong khi đó báo Bách Khoa xuất bản từ tháng 1 năm 1957, tính tới tháng 1 năm 1975 là đủ 18 tuổi, tới hết tháng 4-1975 nó được 18 năm 3 tháng. Đó là chưa kể số lượng các số báo, Bách Khoa xuất bản 426 số; Nam Phong tổng cộng 210 số, chỉ bằng một nửa. Dễ hiểu, Nam Phong là nguyệt san (mỗi tháng ra một số), Bách Khoa là bán nguyệt san (mỗi tháng ra hai số).

Do đời sống lâu dài của nó suốt gần 20 năm cộng với nội dung mà nó mang lại, Bách Khoa có thể coi là cái xương sống tinh thần của miền Nam từ khi đất nước chia cắt 1954 cho đến 1975. Cho đến nay, các bài viết về báo Bách Khoa trong và ngoài Việt Nam đã khá nhiều, từ các hồi ức của những người trực tiếp góp phần xây dựng tờ báo đến những nhà nghiên cứu về sau, chúng tôi chỉ xin tóm tắt một ít điểm chính để giới thiệu một cách tổng quát Bách Khoa với độc giả.

Bách Khoa do ai sáng lập?

Chủ nhiệm sáng lập là Huỳnh Văn Lang, “hợp tác cùng các bạn” gồm ba mươi người liệt kê ngay bên dưới. Tập thể này là những chuyên viên của Hội Kinh tế/ Tài chánh thành lập từ 1955, đứng đầu là ông Huỳnh Văn Lang. Họ là những người hầu hết còn trẻ tuổi vào thời điểm đó, một số du học ngoại quốc mới về nước, tham gia chính quyền miền Nam với lý tưởng xây dựng một quốc gia Việt Nam tự do và phú cường. Sinh hoạt của Hội là họp mỗi hai tuần một lần, thảo luận về những vấn đề kinh tế tài chánh Việt Nam đang phải giải quyết.

Sau một thời gian hoạt động nhóm chuyên viên này nhận thấy cần phổ biến rộng rãi các nghiên cứu của họ, nên đã quyết định tổ chức một tờ báo như là một “diễn đàn chung của tất cả những người tha thiết đến các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội”: tờ BÁCH KHOA ra đời.

Số đầu tiên ra mắt ngày 15 tháng 01 năm 1957 và những số kế tiếp các bài nòng cốt là của các cây bút “cơ hữu” như Huỳnh Văn Lang, Phạm Ngọc Thảo, Hoàng Minh Tuynh, Nguiễn-Ngu-Í... Các cây bút có tên tuổi dần dần tham gia ngày một đông : Nguyễn Hiến Lê xuất hiện vào số 4, Mặc Thu, Vi Huyền Đắc số 5, Võ Phiến số 7, Bùi Giáng số 8...

Trong cuốn Hồi Ký của mình xuất bản sau 1975, học giả Nguyễn Hiến Lê, người bắt đầu viết cho Bách Khoa từ cuối tháng 2 năm 1957 và “dính” luôn với Bách Khoa cho đến số cuối ra ngày 19 tháng 4 năm 1975, đã viết:

Trong lịch sử báo chí nước nhà, tờ Bách Khoa có địa vị đặc biệt. Không nhận trợ cấp của chính quyền mà sống được mười tám năm từ 1957 đến 1975, bằng tờ Nam Phong, có uy tín, tập hợp được nhiều cây bút giá trị như Nam Phong, trước sau các cộng tác viên được khoảng một trăm.”

Nhà văn Võ Phiến, người cũng đã gắn bó với Bách Khoa suốt 18 năm, với các sáng tác truyện ngắn, truyện dài, tùy bút, tạp luận, ngoài ra ngày càng viết nhiều mục với các bút hiệu khác nhau như Tràng Thiên, Thu Thủy. Ông tuy không phải là người làm việc trực tiếp trong tòa soạn Bách Khoa nhưng có thể coi như là người quan trọng tạo nên linh hồn của tờ báo. Ông kể:

“Thoạt tiên là tờ báo của hai nhân vật trong chính quyền: các ông Huỳnh Văn Lang và Hoàng Minh Tuynh. Về sau các ông này rút lui ra khỏi chính quyền, rồi tờ Bách Khoa cũng dần dần chuyển về ông Lê Ngộ Châu.

“Các ông Huỳnh và Hoàng là những chuyên viên trong giới ngân hàng, rồi ngay ông Lê cũng không phải là một văn gia, ấy vậy mà Bách Khoa phải kể là một trong những tờ báo thành công nhất ở miền Nam trong ngót hai mươi năm. Đó là chỗ lý thú trong tình hình sinh hoạt của thời kỳ văn học này.”
(Văn Học Miền Nam - tổng quan, Võ Phiến, trang 238)

Đoạn này nhà văn Võ Phiến hình như cố tình viết không rõ về hai sự kiện ông Huỳnh Văn Lang và Hoàng Minh Tuynh “rút lui ra khỏi chính quyền” và việc “tờ Bách Khoa cũng dần dần chuyển về ông Lê Ngộ Châu”. Xem lại quyển Ký Ức Huỳnh Văn Lang (tập 1) do tác giả xuất bản năm 2011, có đoạn viết:

Sau 6 tháng hoạt động, 30 thành viên toàn là chuyên môn quyết định, mỗi người bỏ ra 1000 đồng (trừ ra một GS chỉ chịu hùn 500 đồng thôi, vì xem như là bố thí), để phổ biến những nghiên cứu của Hội trên một tạp chí.

“Và Bách Khoa Tạp chí đã ra đời. Số 1 phát hành ngày 15 tháng 1 năm 1957, người viết kiêm chủ nhiệm và chủ bút cho đến năm 1963 phải giao cho anh thư ký tòa soạn Lê Ngộ Châu, vì bị chế độ ‘người lính cai trị’ bắt đi bắt lại ba bốn lần giam giữ sau trước gần ba năm.”
(Ký Ức Huỳnh Văn Lang tập 1, trang 624)

Sự kiện người Thư ký Toà soạn Lê Ngộ Châu được giao toàn quyền điều hành tiếp tục tờ Bách Khoa trong một biến cố bất ngờ như thế đã cho chúng ta hiểu rằng vị Thư ký Tòa soạn này đã thực sự đóng một vai trò rất tích cực đối với tờ báo từ nhiều năm tháng trước đó. Về tài làm báo cùng kiến thức, tính tình của ông Lê Ngộ Châu, xem lại hồi ức của nhiều nhà văn cộng tác, thấy ai cũng yêu mến và kính phục ông.

Ý kiến của Nguyễn Hiến Lê, người cộng tác với Bách Khoa từ 1957 đến 1975:

“Ông Châu làm việc rất siêng, đọc hết mọi bài nhận được, đăng hay không ông đều báo cho tác giả biết. (...) Tôi mến ông vì ông có tinh thần trách nhiệm, làm việc đàng hoàng, biết cương quyết giữ vững chủ trương cả khi báo suy, biết xét người, xét văn và có tình với người cộng tác: ai gặp nạn gì ông lại nhà thăm, tìm mọi cách giúp đỡ; nhất là sau vụ Mậu Thân, ông rất băn khoăn lo lắng về các anh em bị kẹt trong vòng máu lửa.”
(Trích từ “Đời viết văn của tôi” của Nguyễn Hiến Lê)

Nhà phê bình văn học Đặng Tiến, trong bài viết tưởng niệm khi nghe tin ông Lê Ngộ Châu qua đời (vào ngày 24 tháng 9 năm 2006), có đoạn đánh giá Lê Châu - như cách gọi của anh em văn nghệ - như sau:

“Nhờ đức tính kín đáo, hòa nhã, Lê Châu đã tập hợp không những trên mặt báo nhiều khuôn mặt khác biệt, thậm chí trái ngược về hoàn cảnh, tính tình lẫn chính kiến, mà còn quy nạp được nhiều bè bạn đến từ những chân trời khác nhau, trong đời sống cụ thể hằng ngày. Chưa kể những tác giả sinh sống ở ngoài nước thường xuyên gửi bài về cộng tác.

“Lê Châu kiến thức rộng, thường xuyên giao tiếp với quan chức hay các nhà văn hóa danh vọng, nhưng luôn luôn từ tốn, trong cách ứng xử hàng ngày, với những người viết trẻ tuổi. Ông đặc biệt lưu tâm đến những người viết mới, viết từ các tỉnh nhỏ, đặc biệt là từ Miền Trung. Bách Khoa là một tờ báo phổ thông, chủ tâm vào những đề tài chính trị, quốc tế, kinh tế, khoa học, chỉ dành một phần cho văn học nghệ thuật, nhưng về lâu về dài đã có những đóng góp lớn lao cho bộ môn văn nghệ. Về sau, phần văn nghệ này lại là khối tài liệu quý giá.

“Lê Châu còn là gương sáng về đức khiêm tốn trí thức. Hai chữ Bách Khoa bình thường được dịch ra tiếng Pháp là Encyclopédie theo nghĩa từ điển bách khoa, hoặc tư trào Bách Khoa trong văn học Pháp thế kỷ XVIII ; nhưng Lê Châu không nhận từ này, cho rằng quá to tát so với tờ báo. Ông dịch Bách Khoa là Variétés, sát nghĩa là « tạp chí ». (...)

“Lê Châu là kẻ sĩ theo truyền thống, luôn luôn mực thước, trong nếp trung dung của cửa Khổng sân Trình và theo nếp mực thước, juste mesure của bực trí thức tân học. Trong đời sống, ông là người bảo thủ ; trên cương vị chủ báo, ngược lại, ông khuyến khích văn chương trẻ và tư tưởng mới, nhưng chừng mực thôi.”
(Tạp văn: Lê Ngộ Châu, 160 Phan Đình Phùng - Đặng Tiến)

Trong cuốn Văn Học Miền Nam tổng quan, nhà văn Võ Phiến đã ghi lại một nhận xét của nhà văn Nguyễn Hiến Lê mà chắc ông cũng đồng ý: “Tuy vậy kể là cây bút chủ yếu của Bách Khoa từ trước đến sau vẫn là hai người: Võ Phiến và Nguyễn Hiến Lê (xem Hồi ký Đời viết văn của tôi của Nguyễn Hiến Lê)”.

Lê Ngộ Châu (trái) gặp lại Võ Phiến trong chuyến đi Mỹ năm 1994

Thế nào là cây bút chủ yếu của một tờ báo? Có cần đó là Chủ bút hay Chủ nhiệm không? Có cần là Thư ký toà soạn không? Không cần, vì những chức vụ ấy có những trách nhiệm khác phải lo, không đương nhiên phải viết lách gì cả ngoài những lá thư nhắc nhở nọ kia về việc điều hành, đường lối. Vậy có phải là người viết thường xuyên trong một thời gian dài cho tờ báo ấy? Có thể đó cũng là một điều kiện, nhưng số lượng các bài viết cũng không đương nhiên khiến cho một tác giả trở nên một cây bút chủ yếu, vì không ai đếm số bài để định giá mức độ ảnh hưởng của một cây bút.

Theo chúng tôi, một cây bút gọi là chủ yếu của một tờ báo là một người thường xuyên, qua bài vở của mình, đem đến cho độc giả một ích lợi và ảnh hưởng tinh thần nhất định, được đa số độc giả biết giá trị và ham thích đón nhận. Hai vị Nguyễn Hiến Lê và Võ Phiến quả thật là những người như thế, có thể nói những đóng góp dài lâu của họ đã góp phần quan trọng tạo nên linh hồn của tờ báo.

Thứ nhất, về phương diện bài vở, hai vị là những người đóng góp dài hơi nhất. Như trên đã nói, Nguyễn Hiến Lê gửi bài đầu tiên cho Bách Khoa ở số 4, ra ngày 1 tháng 3 năm 1957; Võ Phiến số 7, ra ngày 15 tháng 4, 1957. Từ thời điểm ban đầu đó, hai vị liên tục tham dự xây dựng nội dung tờ báo cho đến số cuối cùng, ra ngày 19 tháng 4, 1975.

Về số lượng bài vở đã đăng trên Bách Khoa trong suốt 18 năm thì chắc chắn hai ông chia nhau ngôi thứ một/hai, có thể Võ Phiến nhiều hơn Nguyễn Hiến Lê, vì không những đóng góp phần sáng tác phong phú gồm truyện ngắn, truyện dài, tùy bút, tạp bút..., ông còn viết các mục khác (Thời sự Văn nghệ, Thời sự Chính trị...) và dịch các tác giả Tây phương, dưới các bút danh Tràng Thiên, Thu Thủy.

Báo Bách Khoa ,tại 160 Phan Đình Phùng, Sài Gòn, càng về các năm sau càng biến thành một địa chỉ thân mật cho mọi người cộng tác, với tình thân như gia đình. Theo lời kể của bà Võ Phiến (vào tháng 10, 2017), năm 1960 khi Võ Phiến từ Qui Nhơn dời vào Sài Gòn để làm việc với bộ Thông Tin, chính Lê Ngộ Châu là người lo đi tìm nhà để thuê cho bạn, yểm trợ ngay các nhu cầu cần thiết cho một gia đình từ tỉnh mới về nơi đô thị. Các văn thi sĩ cộng tác đều coi báo quán là nơi gần gũi, tin cậy; những người đóng góp bài vở từ khắp mọi miền đất nước, khi có dịp về Sài Gòn đều ghé thăm Bách Khoa, như về một loại “nhà tinh thần” của mình.

Chính trong loại tình thân và tin cậy có tính chất đại gia đình ấy, những người như Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, với uy tín và năng lực của mình, đã biến thành những “cây bút chủ yếu” của tạp chí Bách Khoa. Trước sau họ vẫn chỉ là người “cộng tác” thôi, không bao giờ giữ một chức vụ nào của tổ chức tòa báo. Nhưng họ vẫn là những “cây bút chủ yếu” đúng nghĩa.

Bách Khoa số ra mắt (15/01/1957)

Trong số những người tham gia vào Bách Khoa sớm nhất, phải kể đến Nguiễn-Ngu-Í (1921-1979, tên thật Nguyễn Hữu Ngư, còn có các bút hiệu Trần Hồng Hừng, Tân-Fong-Hiệb, Ngê-Bá-Lí v.v...). Ông là người đã thực hiện nhiều cuộc phỏng vấn với giới viết lách, từ những nhà văn lớp trước như Nhất Linh, Đông Hồ, Lê Văn Trương, Đỗ Đức Thu, Nguyễn Vỹ.... đến lớp sau như Bình Nguyên Lộc, Doãn Quốc Sỹ, Mai Thảo, Võ Phiến, Nguyễn Văn Trung... Nhà văn Nguyễn Hiến Lê đã viết : “Ngu Í chuyên nghề phỏng vấn, từng trải, có nhiều nhiệt tâm, văn có duyên”. Các đề tài phỏng vấn của ông và câu trả lời của giới cầm bút thời ấy vẫn còn giá trị cho người nghiên cứu văn học ngày nay lẫn mai sau.

Ngoài tài phỏng vấn, Nguiễn-Ngu-Í cũng viết nhiều bài báo có giá trị, ví dụ bài Nhớ và Nghĩ về bài Quốc Ca Việt là một bài nghiên cứu tường tận về tác giả, trường hợp sáng tác, vai trò của bài hát đó trong xã hội từ năm 1942 trở về sau: đã được những ai đặt bao nhiêu nhan đề và lời ca, những ai đã sử dụng nó, với mục đích gì v.v... Thiết tưởng cộng đồng người Việt lưu vong vẫn dùng bản quốc ca Việt Nam Cộng Hòa trong bao nhiêu lễ lạc, biến cố của mình, cần hiểu biết rõ hơn về tiếng hát “Này công dân ơi!” ấy qua bài nghiên cứu này.

Sau cùng, nên nói đến một vấn đề tế nhị liên quan đến tờ báo Bách Khoa, là tên gọi của nó qua những năm tháng thăng trầm. Chúng ta vẫn gọi chung tờ báo là Bách Khoa từ số đầu đến số cuối, nhưng cũng nên biết rằng để giữ được hai tiếng Bách Khoa vững chắc và thân yêu ấy, nó phải theo thời mà có những biệt danh đi kèm. Đây là những cái mốc cho những biến thiên ấy:

1. BÁCH KHOA : Số 1 (ngày 15-1-1957) đến số 193-194 (15-1-1965)
2. BÁCH KHOA THỜI ĐẠI : số 195 (15-2-1965) đến số 312 (1-1-1970)
3. trở lại tên BÁCH KHOA : số 313-314 (Xuân Canh Tuất) (15/1 và 1/2/1970) đến số 377 (15-9-1972)
4. ĐẶC SAN BÁCH KHOA : số 378 (1-10-1972) - đến số 379 (15-10-1972)
5. GIAI PHẨM BÁCH KHOA : số 380 (1-11-1972) đến số chót 426 (19-4-1975)

Bìa sau Bách Khoa số ra mắt

Tất cả những việc vẽ vời “làm cho khác” tên gọi như thế thì hoặc là vì lý do chính trị (cho khác với tên gọi từ “chế độ cũ”), hoặc để thích ứng với chế độ kiểm duyệt hoặc luật báo chí về sau. Thời gian qua, những cái đó được hiểu chỉ là những thủ thuật né tránh để sống còn, và sống còn luôn luôn với cái tên khai sanh của nó: Bách Khoa. Vậy chúng ta trước sau chỉ nên gọi nó là BÁCH KHOA.

22 tháng Mười, 2017.
Phạm Phú Minh

***

BẠN ĐỌC CÓ THỂ TÌM THẤY MỘT SỐ TẠP CHÍ (ĐỒNG THỜI VỚI BÁCH KHOA) ĐƯỢC SỐ HÓA TRÊN NHẬT BÁO NGƯỜI VIỆT ONLINE. TẠI ĐÂY :

THƯ VIỆN NGƯỜI VIỆT
https://www.nguoi-viet.com/ThuVienNguoiViet/thuvien-NV.php

- Nam Phong
- Thanh Nghị
- Tập San Sử Địa
- Phong Hóa
- Ngày Nay

***

* Các bạn có thể tham khảo thêm bài viết “Báo chí Sài Gòn thời VNCH (2)” tại http://chinhhoiuc.blogspot.com/2012/10/bao-chi-thoi-vnch-2.html


***
--> Read more..

Popular posts