Thứ Bảy, 25 tháng 3, 2017

Một bất ngờ mang tên… Định Quán

Chỉ với một địa chỉ ở ấp Tân Lập, xã Phú Túc, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai… (không số điện thoại và cũng không địa chỉ email)… tôi và một người bạn đã tìm ra nhà của một cựu giảng viên Trường Sinh ngữ Quân đội (TSNQĐ).

Sau khi đã tham khảo thêm từ một người bạn đã từng ở Định Quán, chúng tôi được bết thêm chi tiết: ấp Tân Lập ở gần chùa Hưng Túc nằm trên Quốc lộ 20 trên đường đi Đà Lạt. Thế là chúng tôi lên đường tìm anh Đinh Công Liêu.

Định Quán chỉ cách Sài Gòn khoảng 110km nhưng cái khó là địa chỉ không thể cung cấp chính xác nơi mình muốn đến. “Đường đi nằm nơi cửa miệng” nên chúng tôi trực chỉ ngôi chùa, sau đó hỏi thăm và được biết sẽ phải đi khoảng 1 km đường đất nữa. Liên tục hỏi thăm và cũng có người biết chính xác tên ông thầy dậy Anh văn. Và cuối cùng, “điều bất ngờ mang tên Định Quán” đã xảy ra.


Con đường đất dẫn vào nhà anh Liêu

Ba người chúng tôi sau hơn 40 năm xa cách đã gặp lại nhau. Không những thế, cả một tập thể cựu giảng viên TSNQĐ ở nước ngoài cũng như trong nước đã có cơ hội nối lại liên lạc đã từng bị gián đoạn sau một thời gian dài.

Anh Liêu chỉ có chiếc điện thoại “cùi bắp” nhưng thế cũng đủ để hàn huyên với các bạn cũ rồi. Chỗ anh ở xa vùng phủ sóng internet nên không có email. Nhà anh tuy nhỏ nhưng đất rộng mênh mông giữa không gian yên tĩnh, khác hẳn Sài Gòn ồn ào, náo nhiệt.

Những người làm sách “Hồi Ức Sài Gòn” tìm đến anh để thực hiện phương châm đã đề ra: giúp đỡ bạn bè trong hoàn cảnh khó khăn. Niềm vui của anh Liêu cộng với tâm niệm của chúng tôi đã thành một bất ngờ.

Tạm gọi đó là “bất ngờ mang tên… Định Quán”.

***

Táng đá "ba chồng" tại Định Quán, Quốc lộ 20, Sài Gòn - Đà Lạt


Anh Đinh Công Liêu


Quà tặng của cựu giảng viên tại Hoa Kỳ


Huy hiệu Trường Sinh ngữ Quân đội


Quà tặng của nhóm làm sách "Hồi ức Sài Gòn"


Cuộc hội ngộ giữa 3 người bạn

***





--> Read more..

Thứ Tư, 15 tháng 3, 2017

ĐỐI CHIẾU TÊN ĐƯỜNG SÀI GÒN XƯA & NAY

Tài liệu tham khảo về tên đường phố Sài Gòn qua các thời kỳ: “xưa” (thời Pháp thuộc), thời VNCH (trước năm 1975) và “nay”. Xếp theo thứ tự alphabet, có kèm theo những địa điểm nổi tiếng.

A

Abattoir – Hưng Phú (Lò Heo Chánh Hưng)

- Admiral Courbet – Nguyễn An Ninh

d’Adran – Võ Di Nguy Phú Nhuận (Chợ Phú Nhuận, Rạp Văn Cầm, Rạp Cẩm Vân, Cư xá Phú Nhuận) => Phan Đình Phùng

Albert 1er – Đinh Tiên Hoàng (Sân vận động Hào Thành – Hoa Lư – Citadelle, Tổng Nha Thanh Niên, Asam Đakao, mì Cây Nhãn, Chè Hiển Khánh)

Alexandre de Rhodes – Lục Tỉnh (Trung tâm Quân báo Cây Mai, Bò 7 món Ngân Đình, Đường Alexandre de Rhodes tới thời VNCH thay thế đường Paracels trước dinh Độc Lập =>  Alexandre de Rhodes 

Alexandre Frostin – Bà Lê Chân (hông chợ Tân Định, Rạp Moderne sau đổi là Kinh Thành)

Alsace Loraine – Phó Đức Chính (Biệt thự chú Hỏa – Hui Bon Hoa)

Amiral Dupré – Thái LậpThành (Phú Nhuận) => Phan Xích Long

Amiral Roze – Trương Công Định (Chùa Chà, chạy xuyên qua vườn Tao Đàn-Vườn Pelouse) => Trương Định

d’Arfeuille – Nguyễn Đình Chiểu

Armand Rousseau – Hùng Vương (Trường Trung Học Chu văn An, Cư xá sinh viên Sài Gòn)

d’Arras – Cống Quỳnh (Bệnh viện Từ Dũ, Rạp Khải Hoàn, Trường trung học tư thục Hưng Đạo -Giáo Sư Nguyễn văn Phú)

Arroyo de l’Avalanche – Rạch Thị Nghè

Audouit – Cao Thắng (Rạp Việt Long, Rạp Đại Đồng Sài Gòn, Chùa Tam Tông Miếu, Bánh mì pâté Hòa Mã, Tư gia nhạc sĩ Dương Thiệu Tước, Lâm Tuyền)

d’Ayot – Nguyễn văn Sâm (rạp Kim Châu) => Nguyễn Thái Bình

B

– Boulevard Bonard – Lê Lợi (Trụ sở Quốc Hội – Nhà Hát Lớn, Bệnh viện Sài Gòn, Nhà sách Khai Trí, Nước mía bò bía Viễn Đông, Rạp Vĩnh Lợi, Quán cơm Thanh Bạch, Quán giải khát Pôle Nord, Hà Nội Ice Cream, Quán kem Mai Hương, Thư Viện Abraham Lincoln, Nhà hàng Kim Sơn, Bồng Lai)

– Boulevard Chanson – Lê văn Duyệt Ngã Bảy trở xuống: Trụ sở Tổng Liên Đoàn Lao Công, Chợ Đũi, Trụ sở Tòa Đại Sứ Miên, Nơi hoà thượng Thích Quảng Đức tự thiêu góc Phan Đình Phùng, Rạp Nam Quang – ngã tư Trần Quý Cáp, Rạp Kinh Đô sau là văn phòng Usaid, Trường trung học tư thục Trường Sơn, Câu Lạc Bộ Kỵ Mã Sài Gòn) => Cách Mạng Tháng 8

– Boulevard Charner – Nguyễn Huệ (Rạp Rex, Rạp Eden, Passage Eden, Thương xá Tax, Bánh mì pâté Đô Chính, Phòng trà Queen Bee, Tổng Nha Ngân Khố, Kỹ Thương Ngân Hàng, Hôtel Palace, Hãng Charner)

– Boulevard Galliéni – Trần Hưng Đạo (Bộ Lao Động, Nha Cảnh Sát Đô Thành, Sở Cứu Hỏa Đô Thành, Rạp Nguyễn văn Hảo, Hưng Đạo, Rạp Đại Nam, Vũ trường Tour d’Ivoire, Bộ Tổng Tư Lệnh quân lực Đại Hàn, Bộ Tổng Tham Mưu cũ, Sân bóng rổ Tinh Võ, Khiêu vũ trường Vân Cảnh, Arc-en- Ciel, Đêm Màu Hồng, Trường tiểu học Tôn Thọ Tường, Nhà thờ Tin Lành)

– Boulevard Kitchener – Nguyễn Thái Học (Trường tiểu học Trương Minh Ký, Trường tư thục Huỳnh Thúc Kháng, Rạp Nam Tiến, Rạp cải lương Thành Xương, Chợ Cầu Ông Lãnh)

Boulevard Norodom – Thống Nhất (Toà Đại Sứ Mỹ, Phủ Thủ Tướng, Rạp Norodom-Thống Nhất “xổ số quốc gia giúp đồng bào ta mua lấy xe nhà giàu sang mấy hồi”, Hãng nhập cảng xe Peugeot Jean Compte, Bộ Tư Pháp, Hãng xăng Shell, Esso) => Lê Duẩn

– Boulevard Paul Bert – Trần Quang Khải (Đình Nam Chơn, Rạp Văn Hoa)

– Boulevard de la Somme – Hàm Nghi (Đài Pháp Á, Ngân Hàng Việt Nam Thương Tín, BanqueFranco-Indochinoise, Tổng Nha Thuế Vụ, Chợ Chó, Chợ Chim, Trung tâm Cờ Tướng, tiệm incils quân đội Phước Hùng)

– Rue – 11e RIC (Régiment d’Infanrerie Colonniale) - Nguyễn Hoàng (bến xe lục tỉnh, cư xá hỏa xa) => Trần Phú

Ballande- Nguyễn Khắc Nhu

Barbier – Lý Trần Quán (Chả cá Thăng Long)

Barbé – Lê Quý Đôn (Trung Học Lê Quý Đôn-Chasseloup Laubat) => Hồng Thập Tự – Nguyễn Thị Minh Khai

Blan Subé – Duy Tân (Viện Đại Học Sài Gòn, Đại Học Luật Khoa, Công trường Chiến Sĩ, Hồ Con Rùa, Vương Cung Thánh Đường) => Phạm Ngọc Thạch

– Bourdais – Calmette

C

Catinat – Tự Do (Bộ Nội Vụ, Bánh mì pâté Hương Lan, Nhà Hàng Caravelle, Nhà Hàng Continental Palace, La Pagode, Brodard, Vũ trường Maxim’s, Hotel Restaurant Majestic, Rạp Majestic, Tiệm quý kim Đức Âm, Nhà may Cát Phương, Adam, Tân Tân, Phòng Thông Tin cho các cuộc triễn lãm) => Đồng Khởi

Chaigneau – Tôn Thất Đạm (khu Chợ Cũ, rạp Nam Việt)

Champagne – Yên Đổ (Cư xá Đắc Lộ, trường Anh Ngữ Khải Minh) => Lý Chính Thắng

– Charles de Coppe – Hoàng Diệu (Hiệu giày Gia, Quán nhậu Tư Sanh Khánh Hội-Cari dê)

Charles Thomson – Hồng Bàng (Bệnh viện Hồng Bàng,  Đại học Nha Khoa) => Hùng Vương

Chasseloup Laubat – Hồng Thập Tự (Trường Nữ Hộ Sinh Quốc Gia, Hội Hồng Thập Tự Việt Nam, Rạp Olympic, Đồ gỗ Phan văn Nhị, khu quán cháo vịt, Bộ Y Tế, Bộ Tài Chánh, Tổng Nha Ngân Sách Ngoại Viện, Cơ quan Tiếp Vận Trung Ương, Hông vườn Tao Đàn-vườn Ông Thượng-vườn Bờ Rô-Pelouse, Hông Dinh Độc Lập, Hông Thảo Cầm Viên, Trường trung học kỹ thuật Nguyễn Trường Tộ) => Nguyễn Thị Minh Khai

Colonel Budonnet- Lê Lai (Rạp Aristo – Nhà hàng Lê Lai – Tiệm bánh trung thu Tân Tân, Cơm chay Vạn Lộc)

– Colonel Grimaud – Phạm ngũ Lão (Chợ Thái Bình, Tòa soạn nhật báo SàiGòn Mới-bà Bút Trà, Rạp Thanh Bình, Ga xe lửa, Quầy bán vé Hàng Không Việt Nam)

Cornulier – Thi Sách (Nhà in Ideo)

D

Danel – Phạm Đình Hổ – Denis Frères – Ngô Đức Kế (Ngân hàng Quốc Gia Việt Nam)

– Dixmude – Đề Thám

– Docteur Angier – Nguyễn Bỉnh Khiêm (Thảo Cầm Viên, Hồ tắm Nguyễn Bỉnh Khiêm, Tổng Nha Trung Tiểu Học & Bình Dân Giáo Dục, Trường Trung Học Trưng Vương, Võ Trường Toản, Nha An Ninh Quân Đội)

Docteur Yersin – Ký Con

Đỗ Hữu Vị – Huỳnh Thúc Kháng (Trường trung học kỹ thuật Cao Thắng, khu Chợ Trời)

Douaumont- Cô Giang (chợ, rạp hát Cầu Muối)

Dumortier – Cô Bắc (Hãng cao su Labbé)

Duranton – Bùi thị Xuân (Trường trung học Nguyễn Bá Tòng, Trường Les Lauriers)

E

– Eyriaud des Verges – Trương Minh Giảng (Chợ Trương Minh Giảng, Rạp Văn Lang – Minh Châu - cổng xe lửa số 6, Viện Đại học Vạn Hạnh) => Lê Văn Sĩ

l’Église – Trần Bình Trọng (Hôtel Massage Hồng Tá)

d’Espagne – Lê Thánh Tôn (Tòa Đô Chánh, Cửa Bắc Chợ Bến Thành, Tiệm vàng Nguyễn Thế Tài - Thế Năng, tiệm incils quân đội An Thành, Rạp Lê Lợi, Nhà may Văn Quân)

F

Faucault – Trần Khắc Chân

Frère Louis – Nguyễn Trãi từ Ngã Tư Cộng Hoà đổ vô Chợ Lớn (Trung tâm đào tạo huấn luyện viên thanh niên thể thao, Nhà thờ Chợ quán)

Frère Louis – Võ Tánh (Sài Gòn) từ Ngã Tư Cộng Hòa đổ xuống Ngã Sáu (cổng chính Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia, Rạp hát Quốc Thanh, Phở 79, Nhà mồ Á Thánh Matthew Gẫm, Trường nữ trung học tư thục Đức Trí) => Nguyễn Trãi

– Frère Guilleraut – Bùi Chu (Nhà thờ Huyện Sĩ) => Tôn Thất Tùng

– Filippiny – Nguyễn Trung Trực (Nhà hàng Thanh Thế, Nhà hàng Quốc Tế, Bồng Lai, Kim Sơn, Rạp Les Tropiques, Văn Khoa cũ, Pháp Đình Sài Gòn)

– Fonck – Đoàn Nhữ Hài

G

– Gallimard – Nguyễn Huy Tự (Chợ Dakao, Chùa Ngọc Hoàng)

– Gaudot – Khổng Tử (Chợ Bình Tây)

– Georges Guynomer – Võ Di Nguy Sài Gòn (Khu Chợ Cũ)

– Guillaume Martin – Đỗ Thành Nhân (Q4, cầu Calmette)

H

– Hamelin – Hồ văn Ngà

– Heurteaux – Nguyễn Trường Tộ

– Hui Bon Hoa – Lý Thái Tổ (Phở Tàu Bay, Quán Hạ Cờ Tây)

J

Jaccaréo – Tản Đà (khu tiệm thuốc Bắc)

Jauréguiberry – Hồ Xuân Hương (Bệnh viện da liễu-Bạc Hà)

– Jean Eudel – Trình Minh Thế – (Thương cảng Sài Gòn, Kho 5, Kho 10) => Nguyễn Tất Thành

L

– Lacaze – Nguyễn Tri Phương (Mì vịt tiềm Lacaze, Hủ tiếu Mỹ Tiên, Hủ tiếu Cả Cần, Bánh bao bà Năm Sa Đéc, Quán sò huyết lề đường)

– Lacotte – Phạm Hồng Thái (Toà soạn nhật báo Dân Ta – ông Nguyễn Vỹ)

– Lacaut – Trương Minh Ký (Lăng Cha Cả-Linh mục Bá Đa Lộc-Pigneau de Béhaines) => Hoàng Văn Thụ

– De Lagrandière – Gia Long (Dinh Gia Long, Bộ Quốc Phòng, Thư viện Quốc Gia, Rạp Long Phụng – phim Ấn Độ, Tiệm bánh Bảo Hiên Rồng Vàng, Tiệm Đồ da Cự Phú, Tiệm quần áo trẻ em Au Printemps, Tòa soạn nhật báo Tiếng Chuông-ông Đinh văn Khai, Nhật báo Việt Nam của ông Nguyễn Phan Long 1936, Nhật báo Tiếng Dội, Tiếng Dội Miền Nam, Dân Quyền của ông Trần Tấn Quốc và nhiều nhật báo khác) => Lý Tự Trọng

– Larclause – Trần Cao Vân (Bộ Thông Tin)

– Lefèbvre – Nguyễn công Trứ

– Legrand de la Liraye – Phan Thanh Giản (Bệnh viện Bình Dân, Chợ 20, Trường Nữ Trung Học Gia Long, Bệnh viện St Paul, Trường tư thục Phan Sào Nam, Nghĩa Trang Mạc Đĩnh Chi – Đất Hộ, Cư xá Đô Thành, Rạp Long Vân, Bánh xèo Đinh Công Tráng) => Điện Biên Phủ

– Le Man – Cao Bá Nhạ

– Léon Combes – Sương Nguyệt Ánh (Văn phòng bác sĩ quang tuyến Lý Hồng Chương, Võ trường Hàn Bái Đường ở góc Sương Nguyệt Ánh - Lê văn Duyệt 1954)

– Lesèble – Lý văn Phức

– Loucien Lecouture – Lương Hữu Khánh (đường rầy xe lửa Mỹ Tho, miền Trung)

– Luro – Cường Để (Thành Cộng Hòa, Trường Đại Học Y, Dược Khoa, Văn Khoa, Nông Lâm Súc) => Đinh Tiên Hoàng

M

– Mac Mahon – Công Lý (Dinh Độc Lập, Dinh Hoa Lan, Phủ Phó Tổng Thống, Chùa Vĩnh Nghiêm, Trường tư thục Quốc Anh,Thương xá Crystal Palace - Tam Đa, Rạp Hồng Bàng) => Nam kỳ Khởi Nghĩa

– Marchaise – Ký Con

– Maréchal Fox – Nguyễn văn Thoại (Trường đua ngựa Phú Thọ, Bệnh viện Vì Dân) => Lý Thường Kiệt

– Maréchal Pétain – Thành Thái (Trường trung học Bác Ái) => An Dương Vương

– de Marins – Đồng Khánh (Tửu lầu Á Đông, Đồng Khánh, Bát Đạt, Arc En Ciel, Đại Thế Giới) => Trần Hưng Đạo B

– Martin des Pallières – Nguyễn văn Giai

– Massiges – Mạc Đĩnh Chi (Hội Việt Mỹ, Ty Cảnh Quốc Gia Quận Nhứt, Nhà hàng thịt rừng Trường Can, Phở Cao Vân, Trường trung học Les Lauriers, Bộ Canh Nông)

– Mayer – Hiền Vương (Nguyễn Chí Nhiều dược cuộc, Trung tâm phở gà, Giò chả Phú Hương, rạp Casino Đa Kao) => Võ Thị Sáu

– Miche Phùng – Phùng Khắc Khoan (Tư dinh đại sứ Mỹ trước đó là tư dinh của tướng Năm Lửa Trần văn Soái)

– Miss Cawell – Huyền Trân Công Chúa

N

– Nancy – Cộng Hoà (Trung Học Pétrus Ký, Đại Học Khoa Học, Đại Học Sư Phạm, Cửa hôngTổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia) => Nguyễn Văn Cừ

– Nguyễn tấn Nghiệm – Phát Diệm => Trần Đình Xu

– Noel – Trương Hán Siêu

O

– Ohier – Tôn Thất Thiệp (Hủ tiếu Thanh Xuân, Tài Nam Restaurant, Chùa Chà Và)

– d’Ormay – Nguyễn Văn Thinh (Tòa soạn nhật báo Thần Chung - ông Nguyễn Kỳ Nam, Restaurant Admiral) => Mạc Thị Bưởi

P & L

– Paracels – Alexandre de Rhodes (Học ViệnQuốc Gia Hành Chánh cũ, Bộ Ngoại Giao)

– Paris – Phùng Hưng (chợ thịt quay, vịt quay)

– Pavie - Trần Quốc Toản (Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, Viện Hóa Đạo - Việt Nam QuốcTự, Trường tư thục Hồng Lạc, Cục Quân Cụ, Chợ cá Trần Quốc Toản) => Đường 3 tháng 2

– Paul Blanchy – Hai Bà Trưng (Chợ Tân Định, Tổng Cuộc Điện Lực, BGI (Brasseries et Glacières de l’Indochine), Phở An Lợi, Cà phê Quán Trúc, Vũ trường Mỹ Phụng, Công trường Mê Linh, Nhà thờ Tân Định)

– Paulin Vial – Phan Liêm

– Pellerin – Pasteur (Viện Pasteur, Khu Phở Gà, Phở Minh, Nhà sách Khai Trí, Rạp Casino Sài Gòn sau đổi thành rạp Vinh Quang, Nước mía bò bía Viễn Đông)

– Pierre Flandin- Đoàn Thị Điểm (hông trường Nữ Trung Học Gia Long, hông Tổng Nha Ngân Sách Ngoại Viện)

– Laregnère – Bà Huyện Thanh Quan (Cư xá nữ sinh viên Thanh Quan, Chùa Xá Lợi)

Q

– Quai de Belgique – Bến Chương Dương (Thượng Nghị Viện - Hội Trường Diên Hồng, Tổng Nha Kế Hoạch) => Võ Văn Kiệt

– Quai Le Marne – Bến Hàm Tử => Võ Văn Kiệt

– Quai Le Myre de Vilers – Bến Bạch Đằng (Hotel Restaurant Majestic, Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo, Bộ Tư Lệnh Hải Quân, Bến đò Thủ Thiêm, Cột Cờ Thủ Ngữ (Point des Blagueurs), Tư dinh Thủ Tướng, Sở Ba Son - Arsénal - Hải Quân Công Xưởng)

– Quai de Fou-Kien – Bến Trang Tử

R

– Renault – Hậu Giang

– René Vigerie – Phan Kế Bính

– Résistance – Nguyễn Biểu (Cầu chữ Y)

– Richaud – Phan Đình Phùng (Tổng Nha Kiến Thiết và Thiết Kế Đô Thị, Đài Phát Thanh Sài Gòn, Bảo sanh viện Hồng Đức, Kỳ Viên Tự, Trường Rạng Đông, chợ Vườn Chuối, Restaurant Sing Sing, Nhà hàng La Cigale, Sân vận động Phan Đình Phùng) => Nguyễn Đình Chiểu

– Roland Garros – Thủ Khoa Huân

S

– Sabourain – Tạ Thu Thâu (cửa Đông chợ SàiGòn, Nhà thuốc tây Nguyễn văn Cao, Nhà sách & xuất bản Phạm văn Tươi)

– Sohier – Tự Đức

T

– Taberd – Nguyễn Du (Sở xuất nhập di trú, Nhà thương Đồn Đất - Bệnh viện Grall, Trung tâm văn hóa Pháp - Centre Cul turel Francais) => Lý Tự Trọng

– Testard – Trần Quý Cáp (Vũ trường Au Baccara, Đại Học Y khoa cũ, Trường Âu Lạc) => Võ Văn Tần

– Tong-Kéou – Thuận Kiều (Bệnh viện Chợ Rẫy)

– Turc – Võ Tánh (Phú Nhuận)  (Văn Phòng Quận Tân Bình, Phở Quyền, Lăng Cha Cả, Bệnh viện Cơ Đốc) => Hoàng Văn Thụ

V & Y

– Verdun – Lê văn Duyệt Ngã Bảy trở lên (Ngã Ba Chợ Ông Tạ, Rạp Thanh Vân) => Cách Mạng Tháng 8

– Vassoigne – Trần văn Thạch

– Yunnam – Vạn Tượng (Q5) bên cầu Ba-Lê Cao

***

Tham khảo thêm:

* Một số tên đường Sài Gòn xưa và nay:

* Danh mục tên đường Sài Gòn – TPHCM:


--> Read more..

Thứ Hai, 13 tháng 3, 2017

Khu phố tôi sống

“Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt…”
(“Một cõi đi về” - Trịnh Công Sơn)

Hơn một nửa đời người bôn ba, giang hồ đến hơn 15 quốc gia và lãnh thổ, cuối cùng tôi ở lại đây. Ra đi từ lũy tre làng xơ xác để lạc bước đến những thành phố xa hoa diễm lệ… cuối cùng tôi lại trở về đây. Người ta thường nói “lá rụng về cội” nhưng tôi vẫn không tin… cho đến ngày tôi thấy mình đang sống tại đây.

Tôi rất ít khi có những bài viết “trải lòng” và có lẽ bài này là một trong số rất ít bài mang tính cách tâm sự. Đó có thể là hiện tượng “về già” khi người ta vượt qua ngưỡng 70, qua một chặng đường đời tràn đầy vui-buồn, vinh-nhục, thăng-trầm, họa-phúc...

Đường đời dài lắm nhưng cũng chỉ gói gọn trong sự tích “Tái ông thất mã” (*) mà hồi còn đi học tôi bắt gặp trong “Cổ học tinh hoa”. Triết lý đó thật đơn giản nhưng ít người “ngộ” được ý nghĩa thâm sâu nên mới lao vào cuộc cạnh tranh và đến khi thất bại không tìm được sự bình an trong cuộc sống.

Nói một cách khoa học, cuộc đời chỉ là “những dao động hình Sin”, lúc lên lúc xuống theo một quy trình đã sắp xếp trước. Đời người cũng thế, có lúc xuống thì cũng có lúc lên hay ngược lại. Tiếng Anh có câu: “What goes up must come down” là vậy!

Nắm được quy luật hình sin, ta sẽ có một thái độ dửng dưng trước những thành công vì biết rằng sẽ có những thất bại đang ở phía trước. Hiểu được điều đó, tâm sẽ an trong nghịch cảnh và lòng cũng không quá vui mừng trong chiến thắng. Tôi không thích Tố Hữu vì thơ ông sặc mùi chính trị, ngoại trừ hai câu mang tính triết lý:

“Ai chiến thắng mà không hề chiến bại
Ai nên khôn mà chẳng dại đôi lần?”   

***

Trở lại với chủ đề “Khu phố tôi sống”, tôi sẽ đưa các bạn đến đây. Đó là khu vực Phường 7, Quận Phú Nhuận, chỉ cách Quận 1 chừng 5 phút sau khi vượt qua cầu sắt Trần Khánh Dư bắc ngang con kênh Nhiêu Lộc. Cầu được xây dựng theo kết cấu cầu bằng sắt với 2 chiều lưu thông riêng biệt.


Giờ “cao điểm” buổi sáng, xe 4 bánh, 2 bánh từ Phú Nhuận, Bình Thạnh đổ dồn về đây. Qua đến đầu cầu phía Quận 1, con đường Hoàng Sa chắn ngang với lượng xe dày đặc đã tạo một cảnh kẹt xe, dồn cứng trên cầu kéo. Có những lúc kẹt xe trên cầu tôi có thể cảm thấy cầu rung rinh tưởng chừng như sụp đổ bất cứ lúc nào! 

Cầu sắt Trần Khánh Dư qua kênh Nhiêu Lộc

Kể cũng lạ. Chỉ cách cầu Trần Khánh Dư vài trăm mét là cầu Hoàng Hoa Thám dẫn đến đường Trần Quang Khải (Q. 1), mới được xây dựng kiên cố bằng bê tông cốt thép vững chắc năm 2010 lại vắng bóng xe cộ qua lại. Đó là một nghịch lý mà các nhà thiết kế cầu đường của Sài Gòn cần quan tâm giải quyết.

Để lý giải hiện tượng này người ta chỉ căn cứ vào tâm lý người lái xe: cần một khoảng đường ngắn hơn để qua chợ Tân Định. Chỉ ngắn hơn vài phút so với việc sử dụng cầu Hoàng Hoa Thám nhưng người ta vẫn thích qua cầu Trần Khánh Dư để qua Quận 1. Tôi lại nghĩ, giá mà cầu Trần Khánh Dư gặp sự cố, chắc người ta sẽ bỏ luôn chứ không sửa sang làm gì!   

Cầu Hoàng Hoa Thám… vắng bóng xe cộ!

Khu phố tôi sống khác hẳn với chiếc cầu sắt ọp ẹp Trần Khánh Dư. Đó là khu đô thị mới với trục đường chính là Phan Xích Long. Ông là một nhân vật lịch sử, tên thật là Phan Phát Sanh, tự xưng là Đông Cung con vua Hàm Nghi.

Phan Xích Long là thủ lãnh một băng đảng giang hồ nghĩa hiệp đã cầm đầu một số người yêu nước tấn công Dinh Thống đốc và Khám lớn thời Pháp thuộc. Cuộc đời giang hồ của Phan Xích Long chấm dứt vào tuổi 23 khi ông bị người Pháp bắn chết cùng với 13 người khác.

Sài Gòn ngày nay có hơn 2.000 con đường lớn nhỏ, trong đó hàng trăm tên đường viết tắt, đánh số khó hiểu, khó tìm. Nhiều đường trùng tên, sai tên danh nhân gây phản cảm cũng như tạo ra không ít nhầm lẫn. Những tên đường đó thường nằm ở các quận ngoại thành như Bình Thạnh, Bình Tân, Tân Bình, Tân Phú, Hóc Môn, Quận 12…

Tại Quận 12 hầu hết các tuyến đường được đánh số thứ tự, ký tự các chữ cái như HT (phường Hiệp Thành), TA (phường Thới An), TMT 01 (phường Trung Mỹ Tây), TMT 02 hay TMT 2A, TMT 14A…

Tại Quận Bình Thạnh tên đường lại được được đặt theo ký tự và số như D1, D2, D3, D4, D5... Quận Tân Phú, nhiều tuyến đường tại phường Tây Thạnh được viết theo ký tự chữ kết hợp với số như: S1, S2... S9, C1, C2, C4A khiến nhiều người dân không biết đâu mà tìm...

Đường Kênh Nước Đen chạy qua địa phận quận Tân Phú và quận Bình Tân, ngày trước là một dòng kênh dài, nước dơ và bốc mùi rất khó chịu. Trong những năm trở lại đây, một phần kênh đã được san lấp, trồng cây xanh, phần còn lại mới được gia cố bờ kè. Tuy nhiên, hiện tại cái tên Kênh Nước Đen vẫn được quận Tân Phú và Bình Tân dùng để đặt tên cho một con đường đi chung qua 2 quận.

Có những tên đường nghe khá hài hước, đơn cử đường Rạch Bùng Binh (quận 3), đường Cống Lở (quận Tân Bình), đường Vành Đai Trong, Lò Thiêu, Mã Lò (quận Bình Tân), đường Bờ Bao Tân Thắng (quận Phú) và cả đường Bờ Bao 1 “ăn theo” con đường này.

Có những đường ghi sai tên danh nhân như Đoàn Như Hài (đúng là Đoàn Nhữ Hài), Hà Tôn Quyền (đúng là Hà Tông Quyền), Nơ Trang Long (đúng là N’ Trang Lơng), Trần Khắc Chân (đúng phải là Trần Khát Chân)..

Cũng may khu tôi ở lại là “khu phố đầy hoa” với các tên đường như Hoa Lan, Hoa Đào, Hoa Mai, Hoa Cau, Hoa Sứ… thật thi vị và cũng thật đẹp dù rằng không thể thật sự tìm thấy những loại hoa đó trên từng con đường. Bạn hãy nhìn vào bản đồ trên Google:


Như đã giới thiệu, đây là khu phố mới, nhà cửa xây khoảng 4, 5 tầng, có chung cư cao khoảng 7, 8 tầng với đầy đủ các dịch vụ phục vụ cư dân như trạm xăng, siêu thị Co.opMart, cửa hàng Ministop của Aeon (Nhật Bản) mở cửa suốt ngày đêm. Dọc theo đường Phan Xích Long còn có nhữn “đại gia” tên tuổi như Café Starbucks, Pizza Hut, Loteria, Texas Chicken đến từ các nước, nhưng cũng may chưa thấy bóng dáng của “anh láng giềng tốt”.
Buổi sáng nhiều người ra bờ kè kênh Nhiêu Lộc đi bộ, tập thể dục. Nhìn sang bên kia là bờ kè Quận 1 cũng chẳng thấy thua kém gì ai dủ là mang danh quận Phú Nhuận. Cũng có nhiều chùa để nghe kinh kệ qua loa phát, lại còn có một tủ quần áo miễn phí cho người nghèo với “bảng hiệu” đầy nghĩa tình: “Ai thừa đến ủng hộ - Ai thiếu đến lấy”.

Quán ăn cũng nhiều nhưng đặc biệt không thấy quán nhậu nơi tôi ở. Bún bò, bún mộc, bún mắm, bánh canh… ngoài tiệm phở “truyền thống” lại còn có “Phở khô Gia Lai” ăn cũng lạ. Quán cà phê san sát nhau trên đường Hoa Sứ, đặc biệt khách quen ngồi tiệm nào thì “kết” luôn tiệm đó.

Sáng nào tôi cũng ngồi cà phê Diễm Ly, chủ nhân là một ông còn trẻ, chưa đến 50 nhưng là người có học thức. Tôi còn nhớ, lần đầu tiên ngồi quán vỉa hè chủ quán đến làm quen: “Ông ở nước nào về vậy?”.

Hôm 30 Tết vừa rồi chủ quán còn đặc biệt “khuyến mãi” không lấy tiền. Thật tình một ly cà phê sữa đá chẳng đáng bao nhiêu nhưng đã thể hiện cái tình giữa chủ và khách với những lời chúc chân tình!

Nơi tôi ở là thế đó.


***

Ghi chú:

(*) Sự tích “Tái ông thất mã”: Trong  “Cổ học tinh hoa” của Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc, bài 77 “Họa phúc không lường”, chép lại sách của Hoài Nam Tử:

“Một ông lão ở gần cửa ải có con ngựa tự nhiên đi sang nước Hồ mất. Người quen kẻ thuộc đều đến hỏi thăm, chia buồn. Ông lão nói:

- Mất ngựa thế mà phúc cho tôi đấy, biết đâu!

Cách mấy tháng, con ngựa trở về lại quyến thêm một con ngựa hay nữa. Người quen kẻ thuộc đều đến mừng rỡ. Ông lão nói:

- Được ngựa thế mà họa cho tôi đấy, biết đâu!

Từ khi được ngựa hay, con ông lão thích cưỡi. Chẳng may ngã què chân. Người quen kẻ thuộc đều đến hỏi thăm. Ông lão nói:

- Con què thế mà phúc cho tôi đấy, biết đâu!

Cách một năm có giặc Hồ. Nhà vua bắt lính đi đánh giặc. Quân lính mười người chết đến chín. Chỉ con ông lão vì què, không phải đi lính mà cho con vẫn có nhau.”

"Tái ông thất mã" trở nên một thành ngữ để chỉ sự họa, phúc xoay vần, khó biết trước được. Trong cái phúc thường khi có cái họa; trong cái họa lại có cái phúc. Cổ ngữ cũng có câu: "Họa tùng phúc sở ỷ, phúc tùng họa sở phục".

*** 
  


--> Read more..

Thứ Ba, 7 tháng 3, 2017

Hai Bà Trưng

Hàng năm, vào ngày 6 tháng 3 Âm lịch, là ngày giỗ hay là lễ hội tưởng nhớ Hai Bà Trưng, cũng là Ngày Phụ nữ Việt Nam tại miền Nam trước kia và hiện nay được tổ chức tại nhiều nơi ở các cộng đồng người Việt tại nước ngoài.

Mãi đến năm 1975 mới có Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3 làm lu mờ hình ảnh của hai vị anh thư nước Việt. Theo trang web IWD (International Women’s Day), chỉ có 27 quốc gia lấy ngày này làm ngày lễ kỷ niệm, chiếm vỏn vẹn 14% trên tổng số 193 quốc gia thành viên Liên Hiệp Quốc mà thôi!


Đa số là các nước này thuộc khối Cộng sản như Trung Quốc, Việt Nam, Triều Tiên, Cuba, Lào, Campuchia, Afghanistan, Armenia, Azerbaijan, Belarus, Georgia, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Moldova, Mông Cổ, Montenegro, Nga, Tajikistan, Turkmenistan, Ukraine, Uzbekistan, Zambia, Burkina Faso, Guinea-Bissau, Madagascar, Uganda và Nepal.


Khởi nghĩa Hai Bà Trưng là cuộc khởi nghĩa chống Bắc thuộc đầu tiên trong lịch sử Việt Nam do hai chị em Trưng Trắc và Trưng Nhị lãnh đạo. Cuộc khởi nghĩa đã đánh đuổi lực lượng cai trị nhà Đông Hán ra khỏi Giao Chỉ, mang lại độc lập trong 3 năm cho người Việt tại đây.

Căn cứ theo giả thuyết do “Thiên Nam ngữ lục” nêu mà sử gia Đào Duy Anh đồng tình, cuộc nổi dậy chống nhà Đông Hán đã diễn ra vào nửa cuối năm 39 và bị Tô Định trấn áp khiến Thi Sách bị hại. Sau khi Thi Sách bị Tô Định giết, Trưng Trắc và các Lạc tướng càng căm thù, quyết tâm chống lại nhà Hán để trả thù. Bà cùng Trưng Nhị mang quân bản bộ về giữ Hát Môn.

Hai Bà Trưng cởi voi tấn công giặc Hán (tranh Vi Vi)

Tháng 9 năm 39, Trưng Trắc và Trưng Nhị tập hợp các tướng lĩnh cùng nhau làm “Hội thề” ở cửa sông Hát (huyện Phúc Thọ, Hà Nội) thuộc huyện Mê Linh thời đó. “Thiên Nam ngữ lục” ghi lời thề của Trưng Trắc như sau:

"Một xin rửa sạch nước thù
Hai xin dựng lại nghiệp xưa họ Hùng
Ba kêu oan ức lòng chồng
Bốn xin vẻn vẹn sở công lênh này"

Hai Bà Trưng khởi nghĩa (Tranh dân gian Đông Hồ)

Dưới sự lãnh đạo của hai chị em Trưng Trắc, Trưng Nhị, nhiều lực lượng chống ách đô hộ của nhà Đông Hán đã kết hợp làm một, trở thành một phong trào khởi nghĩa rộng lớn người Việt, đánh đổ sự cai trị của nhà Hán trên toàn bộ lãnh thổ Âu Lạc và Nam Việt cũ.

Điều này được các sử gia đánh giá là một sự thức tỉnh của tinh thần dân tộc Việt, một sự tái nhận thức quan trọng về quyền sống theo cách riêng của người Việt. Cuộc khởi nghĩa phản ánh ý thức dân tộc đã khá rõ rệt của Lạc tướng và Lạc dân trong các bộ lạc hợp thành nước Âu Lạc cũ.

Ý thức về độc lập chủ quyền quốc gia của dân tộc Việt trên con đường hình thành qua hơn 200 năm mất nước - khoảng thời gian mà các triều đại phong kiến phương Bắc ráo riết thực hiện đồng hóa nhằm biến Âu Lạc vĩnh viễn là quận huyện của Trung Quốc – vẫn tồn tại và phát triển trong lòng người Việt.

Đây là cuộc khởi nghĩa chống sự cai trị của Trung Quốc đầu tiên của người Việt trong 1000 năm Bắc thuộc. Các Lạc tướng cùng hậu duệ của họ là đại biểu của phong trào này. Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng do phụ nữ đứng đầu, trong thế giới tư tưởng “trọng nam khinh nữ” của đế chế Hán cổ đại, được xem là sự đối chọi quyết liệt về văn hóa, nếp sống, nếp tư duy của đôi bên Nam – Bắc, Việt - Hán.

Voi diễn hành nhân ngày Lễ Hai Bà Trưng 7/3/1957 tại Sài Gòn

“Đại Nam quốc sử diễn ca” có đoạn kể về cuộc khởi nghĩa của Hai bà Trưng:

“Bà Trưng quê ở Châu Phong
Giận người tham bạo thù chồng chẳng quên
Chị em nặng một lời nguyền
Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân

Ngàn tây nổi áng phong trần
Ầm ầm binh mã xuống gần Long Biên
Hồng quần nhẹ bước chinh yên
Đuổi ngay Tô Định, dẹp yên biên thành

Kinh kỳ đóng cõi Mê Linh
Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta
Ba thu gánh vác sơn hà
Một là báo phục hai là Bá Vương

Uy danh động tới Bắc Phương
Hán sai Mã Viện lên đường tấn công
Hồ Tây đua sức vẫy vùng
Nữ nhi địch với anh hùng được sao!

Cẩm Khê đến lúc hiểm nghèo
Hai Bà thất thế cùng liều với sông!
Trước là nghĩa, sau là trung
Kể trong lịch sử anh hùng ai hơn”.

Lễ Hai Bà Trưng ở Sài Gòn năm 1961

***


--> Read more..

Thứ Bảy, 4 tháng 3, 2017

Cuộc đời nhà văn Duyên Anh

Nhà văn Duyên Anh qua cái nhìn của một người bạn thân, Vĩnh Phúc, Senior Producer của đài BBC. Dưới đây là bài viết của Vĩnh Phúc từ Luân Đôn. Phần tiểu sử ở cuối bài và hình ảnh trong bài của NNC.

***

Cuộc đời nhà văn Duyên Anh
Vĩnh Phúc

Hôm nay, mở e-mail, tôi thấy một bài, tựa đề 20 năm nhà văn Duyên Anh lìa cõi tạm. Tôi ngồi lặng người, để mặc cho bao nhiêu ký ức về Duyên Anh chợt dồn dập trở về.
Tôi còn nhớ như in, chiều ngày 30 tháng chạp năm Bính Tý, từ Luân Đôn tôi bàng hoàng nhận được tin Duyên Anh qua đời ở Paris ngày hôm trước. Tính theo dương lịch thì là ngày 6/2/1997.


Tang lễ cử hành 10 giờ sáng 14-2-1997, hỏa thiêu lúc 14 giờ cùng ngày. Cuối cùng, tôi đi tới quyết định phải kể lại những điều tôi biết về Duyên Anh, để giúp những người ái mộ nhà văn hiểu rõ hơn về anh, đồng thời đính chính những hiểu lầm của người đời, do vô tình hay cố ý.


Nhà văn Duyên Anh (trước 1975)

Ngay khi Duyên Anh sống trên đảo Pulau Bidong chờ được sang Pháp sum họp với vợ con, anh đã liên lạc với tôi ở Luân Đôn. Và cũng vào thời gian này, rắc rối đã xảy ra. Hồi đó, có người kể lại với tôi rằng một số người trên đảo nghe nói là Duyên Anh làm ăng ten khi đi tù cộng sản, nên họ dọa đánh.

Cũng trong thời gian này, con gái Duyên Anh là Vũ Nguyễn Thiên Hương gửi cho tôi và giáo sư Patrick Honey bản thảo hai truyện “Đồi Fanta”, và “Một người Nga ở Sài Gòn”. Tôi thấy trong “Đồi Fanta” tác giả mượn lời mấy đứa trẻ bụi đời để chửi các nhân vật lãnh đạo cũ của VNCH như Nguyễn văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ, hoặc nhà văn Mai Thảo.

Tôi dùng bút chì đánh dấu những chỗ đó rồi chú thích đề nghị Duyên Anh bỏ các đoạn đó đi, với lý do chúng chỉ làm rẻ tác phẩm mà thôi. Sau đó tôi cảm động và ngạc nhiên khi thấy Duyên Anh nghe theo lời khuyên mà bỏ những đoạn văn đó. Tôi mừng vì nghĩ rằng môt con người cao ngạo và bướng bỉnh như Duyên Anh mà bây giờ biết "tu tỉnh" và biết nghe lời khuyên hợp lý rồi chăng?

Nhưng không lâu sau thì chứng nào vẫn tật nấy khiến tạo ra biết bao nhiêu là hệ lụy. Tuy nhiên, trong mối giao tình suốt gần hai thập niên 1980, 90, đã có những lần Duyên Anh chịu lắng nghe tôi.

Có thể nói rằng Duyên Anh mang một cuộc sống nội tâm nhiều dằn vặt. Phải chăng điều này tạo ra một Duyên Anh bề ngoài khinh mạn, bướng bỉnh, phá phách? Có những chuyện riêng tư dường như Duyên Anh chỉ giữ kín trong lòng không hề thố lộ với ai, kể cả người bạn thân nhất, từng gắn bó với Duyên Anh từ thời trai trẻ hàn vi hồi mới di cư, từng hi sinh rất nhiều cho Duyên Anh cả về vật chất lẫn tinh thần, là Đặng Xuân Côn. (Đặng Xuân Côn lớn tuổi hơn Duyên Anh nhưng lấy cô em vợ Duyên Anh, cô Minh).

Đây là ví dụ cho thấy tình thân giữa hai người bạn, và sự hi sinh của Đặng Xuân Côn dành cho Duyên Anh như thế nào: Hồi hai người còn nghèo, với đồng lương thư ký và chỉ đi làm bằng chiếc xe mô bi lét cọc cạch, mà Đặng Xuân Côn dám mua chiếc xe Vespa mới toanh đầu đời cho Duyên Anh.

Và ba lần vợ Duyên Anh đi sanh, thì chính Đặng Xuân Côn là người vào bảo sanh viện trông nom săn sóc sản phụ và hài nhi, khiến cho các bác sĩ và y tá cứ tưởng Đặng Xuân Côn là cha mấy đứa trẻ!

Tôi nghĩ rằng hệ lụy đeo đẳng cuộc đời Duyên Anh có lẽ từ khi Duyên Anh kết hôn. Duyên Anh theo đạo Phật trong khi vợ theo đạo Chúa. Song hình như Duyên Anh cũng không quan tâm chuyện tôn giáo.

Nguyễn Ngọc Phương - vợ Duyên Anh - là con nhà đại điền chủ miền Nam Nguyễn Ngọc Đề, em phó tổng thống thời Đệ Nhất Cộng Hòa Nguyễn Ngọc Thơ. Ở Long Xuyên có con kinh gọi là kinh Ông Đề, chính do cha vợ Duyên Anh cho đào để đem nước vô giúp dân làm ruộng. Dù lấy vợ nhà giàu và có thế lực nhưng Duyên Anh hầu như không nhờ nhà vợ gì cả, vì mẹ ruột Ngọc Phương mất sớm, và ba chị em gái gặp bà dì ghẻ khắc nghiệt.

Tuy vậy cũng khó tránh được "lời ong tiếng ve" và chính Duyên Anh sau này có viết mấy lần về thái độ xem thường của cậu em vợ, để rồi khi đã có danh vọng thì Duyên Anh "tuyết hận" (chữ của Duyên Anh)

Sau này nhờ có dịp tiếp xúc nhiều nên tôi được biết khá rõ về tính tình của vợ Duyên Anh. Chính vì giữa hai vợ chồng không có được mối quan hệ hòa thuận kẻ tung người hứng, hiểu nhau, thông cảm cho nhau, nên gia đình thỉnh thoảng xảy ra cảnh bất hòa.

Theo ông Trần Kim Tuyến, hồi những năm trước 1975, cứ trung bình khoảng 2, 3 tháng, vợ Duyên Anh lại đến khóc lóc nhờ ông và linh mục Thiên Hổ (Nguyễn Quang Lãm, báo Xây Dựng) đi tìm Duyên Anh vì anh chàng cãi nhau với vợ, đã bỏ nhà đi biệt.

Hai vị niên trưởng lại phải cho người đi dò la tin tức Duyên Anh, rồi khuyên nhủ hắn về với gia đình. Đã đành vợ chồng nhà nào cũng đôi khi có chuyện mà người ta gọi là "bát đĩa có khi xô". Nhưng với Duyên Anh hình như tình trạng này không phải chỉ xảy ra "thỉnh thoảng".

Sau này, khi đã lâm cảnh mất nước, mất nhà, thân đi tù đi tội, thế mà cũng vẫn còn cảnh xào xáo lục đục. Lắm khi tôi cứ giả thiết: nếu Duyên Anh lấy một người vợ tính tình nhu mì, biết cách chìu chồng, biết nhẫn nhịn chịu đựng, thì có lẽ Duyên Anh đã không gây gổ và có cuộc sống gia đình thật hạnh phúc. Duyên Anh ham bạn, rồi khi có sẵn đồng tiền thì lại ham chơi vung vít.

Khi sống cuộc đời tị nạn ở Paris, không còn tiền để vung vít nữa, nhưng tính ham bạn vẫn còn. Cộng thêm hoàn cảnh sống gò bó cả tinh thần lẫn vật chất, nên càng thèm bạn và chỉ còn cách tìm sự khuây khỏa bằng ly rượu. Bởi vậy, trong một lá thư gửi cho tôi hồi cuối năm 1987 trước khi bỏ Paris sang Hoa Kỳ, Duyên Anh thổ lộ tâm sự với tôi, còn bình thường không hề hé môi.

Trước đó không lâu, Duyên Anh tỏ ra buồn và cô đơn vì cuộc sống ở Paris không thích hợp với mình, nên đã làm bài thơ Lưu đầy gồm 100 câu gửi tặng tôi. Hiểu rõ tâm trạng Duyên Anh, tôi đã viết trả lời bằng bốn câu có giọng hơi trách móc như sau:

“Đến được đây ta ở lại đây
Có ai vui kiếp sống lưu đầy
Sao vội quên câu "sông có khúc..."
Địa ngục, thiên đàng, ai tỉnh say?”

Viết như vậy, nhưng tôi biết rất rõ rằng Paris không phải nơi có thể cầm chân Duyên Anh được. Tuy nhiên, tôi vẫn muốn cho Duyên Anh biết rằng đất Mỹ cũng chưa hẳn sẽ là nơi thích hợp với anh.

Bởi vì bây giờ thời thế đã đổi khác. Những người bạn mà anh tưởng có thể chia bùi xẻ ngọt, những người trước kia đã nhờ vả anh hoặc tỏ ra hào sảng với anh; tất cả bây giờ đã đổi khác rồi. Sẽ khó trông mong gì ở họ. Có kẻ gặp vận may trở nên khá giả, nhưng họ làm mặt xa lạ chứ không nồng nhiệt với anh.

Có những người còn tình nghĩa nhưng lâm cảnh "ốc chưa mang nổi mình ốc làm sao mang cọc cho rêu". Tôi cũng nhắc nhở Duyên Anh rằng nếu vẫn cứ muốn đi Mỹ thì phải rất thận trọng. Vì đất Mỹ vốn có lối sống rất bạo động, mà bằng cách ăn nói, viết lách đụng chạm, gây thù oán với nhiều người của Duyên Anh thì khó tránh được tai họa.

Nhưng sau khi đọc hai lá thư cuối cùng của Duyên Anh viết từ Paris, tôi mới hiểu rõ thêm những nguyên nhân thúc đẩy Duyên Anh có quyết định dứt khoát.

Trước nhất là sự việc liên quan đến buổi ra mắt 3 băng cassette nhạc do Duyên Anh thực hiện. Trước đó một thời gian Duyên Anh viết cho tôi, nói rằng cần tiền để làm việc này. May mắn là một mạnh thường quân giúp một khoản lớn, một vài anh em khác ủng hộ những món nhỏ. Và Duyên Anh ngỏ ý "vay" tôi một khoản nhỏ, hứa bán xong cassette sẽ trả ngay. Tôi đã gửi "ủng hộ, chứ không vay mượn gì cả".

Chẳng ngờ, khi buổi ra mắt băng nhạc được tổ chức khá xôm tụ với hi vọng tràn trề của Duyên Anh, thì bất ngờ vợ Duyên Anh ập đến phá đám. Bởi vì vị mạnh thường quân của Duyên Anh là một phụ nữ.

Người này tôi đã biết, và khoảng nửa năm trước đã mời tôi cùng Duyên Anh về nhà ăn cơm. Đây là một phụ nữ đã có hai con gái học trung học và đại học ở Mỹ. "Bị" mời thì tôi đến, nhưng tôi không tỏ ý kiến tán thành hay phản đối mối liên hệ này của Duyên Anh.

Vì tôi nghĩ bạn tôi đã quá khôn ngoan từng trải và nhiều tài hoa do đó đi đến đâu cũng có rất nhiều người mến mộ. Đó là chuyện... bình thường. Còn tôi "tài hèn trí đoản", nên chỉ biết an phận mà thôi.

Vì vụ đánh ghen bất ngờ đó mà Duyên Anh và vị mạnh thường quân được bằng hữu đưa vội ra cửa sau, biến mất; còn quan khách cứ tự động giải tán trong sững sờ.

Sau đó, vợ Duyên Anh tịch thu hết băng nhạc, cho nên không ai mua được, và chỉ một số rất nhỏ bạn thân của Duyên Anh có được các băng nhạc đó mà thôi. Sau vụ này Duyên Anh viết thư cho tôi.


Nhà văn Duyên Anh (sau 1975)

Tất nhiên, không khí gia đình Duyên Anh càng kém vui hơn. Có lẽ sự dằn vặt của vợ đã khiến cho Duyên Anh đi đến quyết định dứt khoát là bỏ gia đình, bỏ Paris để đi Mỹ, mặc dù chưa có quốc tịch Pháp, mà cũng chẳng có một thứ bảo hiểm nào cả, trong đó bảo hiểm du lịch là tối quan trọng.

Chính vì vậy mà khi bị hành hung ngày 30-4-1988, Duyên Anh lâm vào tình trạng rất bi đát. Trong lá thư cuối viết từ Paris, Duyên Anh tỏ cho tôi biết quyết định dứt khoát.

Hình như khi sang Mỹ, Duyên Anh đến ở với gia đình Đặng Xuân Côn một thời gian ngắn, rồi đi gặp một số bạn cũ và mới, rồi cũng viết cho một hai tờ báo (hồi đó báo chí Việt Nam ở hải ngoại còn phôi thai lắm). Và dĩ nhiên, Duyên Anh cũng đả kích vung vít khá nhiều người. Đụng chạm lớn nhất có lẽ là với mặt trận Hoàng Cơ Minh mà nghe nói hồi đó đang phát triển mạnh lắm.

Những hệ lụy do Duyên Anh tạo ra khiến đưa đến vụ hành hung thô bạo. Tôi thương và buồn cho Duyên Anh. Không lâu sau khi Duyên Anh đến Paris từ Pulau Bidong, tôi đã sang ngay để phỏng vấn và tường thuật trên BBC.

Còn nhớ, tôi đã chỉ mặt Duyên Anh mà bảo: "Thôi nhé. Từ nay hãy chôn bỏ những thằng Thương Sinh, Bếp Nhỏ, Thập Nguyện v.v... mà chỉ giữ lại thằng Duyên Anh nhé! Để cho người ta thương và tránh gây thù chuốc oán. Vả lại, viết lách và làm báo ngoài này rất khác với trong nước như cách các ông quen làm trước 1975".

Khi đó, Duyên Anh đã cười, trả lời, "Tôi hứa với ông và thề sẽ chỉ giữ lại một thằng Duyên Anh thôi". Và vợ Duyên Anh đã đúng khi nói: "Anh Duyên Anh thề cá trê chui ống!"

Những huyền thoại quanh vụ Duyên Anh bị hành hung

Đã 29 năm rồi, kể từ cái ngày định mệnh 30-4-1988, ngày nhà văn Duyên Anh bị đánh suýt vong mạng. Lúc đó là 5 giờ sáng giờ Luân Đôn. Chuông điện thoại reo, tôi ngạc nhiên bật dậy khỏi giường và lẩm bẩm, "Ai gọi sớm thế!" Đầu dây bên kia, tiếng vợ Duyên Anh khóc và kể rằng chồng bị người ta đánh hôn mê bất tỉnh, chắc là chết mất!

Tôi sững sờ, hỏi xem tình trạng Duyên Anh ra sao. Chị Ngọc Phương vẫn mếu máo, bảo, "Đưa vào nhà thương, nhưng vì anh Duyên Anh không có giấy tờ, không có bảo hiểm, nên chúng nó vất nằm một xó như con chó, không biết gì cả. Anh làm ơn gọi ngay cho bệnh viện, bảo lãnh cho anh Duyên Anh, thì họa may họ mới chữa cho. Anh làm ngay đi!"

Tôi hỏi tên bệnh viện, số điện thoại, và tên bác sĩ trực hôm đó. Vợ Duyên Anh cho mọi chi tiết. Bây giờ tôi chỉ còn nhớ được ông bác sĩ hôm đó có tên Fernandez (?) nên đoán ông ta gốc Mễ. Tôi gọi ngay, xin nói chuyện với ông ta, xưng tên họ, là senior producer trong đài BBC London, cho số điện thoại sở cũng như nhà riêng, kèm theo địa chỉ.

Tôi cho biết Duyên Anh là một nhà văn nổi tiếng của VNCH, từ Paris sang Mỹ chơi, chứ không phải một tên vô gia cư. Và tôi thay mặt gia đình Duyên Anh, hứa sẽ thanh toán mọi phí tổn của bệnh viện. Sau đó, tôi gọi luôn đại diện Pen Club International ở Mỹ, nói cho biết sự thể, và đề nghị họ cũng gọi cho bệnh viện để giới thiệu thân thế và sự nghiệp Duyên Anh.

Tôi lại gọi đại diện Secours Catholique của Pháp (một tổ chức thiện nguyện Công giáo) yêu cầu họ làm tương tự. Rồi sau được biết là Đặng Xuân Côn và con trai lớn của Duyên Anh là Vũ Nguyễn Thiên Chương đã từ Texas bay sang ngay để săn sóc cho Duyên Anh và lo mọi thủ tục giấy tờ.

Tôi yên tâm vì Đặng Xuân Côn và Thiên Chương đã có mặt ngay bên cạnh Duyên Anh. Rồi được biết là sau một thời gian chữa trị trong bệnh viện, Duyên Anh được cho về. Một mạnh thường quân dấu tên (sau này nghe nói là Bùi Bỉnh Bân), đã bí mật đem Duyên Anh về tiếp tục săn sóc.

Theo gia đình Duyên Anh thì người này phải giữ hoàn toàn bí mật, vì vào thời điểm đó người Việt tị nạn sống ở Mỹ rất hoang mang sau vụ Duyên Anh bị hành hung. Trước đó đã thỉnh thoảng có người bị khủng bố hoặc sát hại vì bày tỏ thái độ chính trị.

Vợ con Duyên Anh còn sợ rằng kẻ thù sẽ tiếp tục truy tìm để làm cho Duyên Anh chết luôn hầu bịt miệng. Cơ quan FBI gặp bế tắc vì cộng đồng người Việt tại Orange County không có ai dám hợp tác để giúp cho cuộc điều tra truy tìm hung thủ. Người ta sợ và hèn!

Trong khi đó, lại không thiếu những tin đồn, những lời rỉ tai trong quần chúng cũng như trong giới cầm bút về tình trạng sức khỏe của Duyên Anh. Những người bạn tốt muốn tìm hiểu sự thực cũng mù tịt, trong khi có người tung tin là Duyên Anh đã về Pháp rồi.

Thậm chí có một vài ông trong giới cầm bút còn tuyên bố (như thật) rằng tổng thống Mỹ ra lệnh dùng một chuyến bay riêng để đưa Duyên Anh về Pháp, có nhân viên FBI đi theo bảo vệ! Ông khác lại nói rằng tổng thống Pháp ra lệnh đem một máy bay đặc biệt sang đưa Duyên Anh về Pháp.

Ấy thế mà người Việt mình quả thật quá dễ tính, cứ tin là có thật. Nực cười nhất là cho đến tận ngày nay mà vẫn còn có nhiều người tin như vậy!

Vậy sự thật ra sao? Sự thật là sau một thời gian chờ đợi cho Duyên Anh phục sức để có thể ngồi máy bay về Pháp, tổ chức thiện nguyện Secours Catholique của Pháp gửi tặng 2 vé máy bay. Một cho Duyên Anh và một cho một người thân đi theo săn sóc.
Chỉ có vậy thôi.

Và từ đó, tại Paris, mỗi tuần Duyên Anh phải vào bệnh viện mấy lần để cho bác sĩ theo dõi sức khỏe, rồi được cho tập vận động nhẹ nhàng, nếu không thì sẽ bị bại liệt luôn. Thế rồi, với thời gian, với việc tập vận động, lần lần Duyên Anh sử dụng được tay trái và chân trái.

Nghĩa là nửa người bên trái phục hồi tuy không mạnh như xưa, còn nửa bên phải vẫn liệt. Tôi lại luôn luôn gọi qua Paris khích lệ để Duyên Anh đừng nản chí. Tôi thường nhắc Duyên Anh về một thí dụ mà chính Duyên Anh đã viết trong truyện của mình về tấm gương nghị lực và ý chí phấn đấu không chịu khuất phục trước nghịch cảnh, đó là con gọng vó, một loài nhện nước chân dài lêu khêu trông như những gọng của cái vó đánh cá.

Trong một đoạn văn, Duyên Anh tả con gọng vó đứng trên một dòng nước chảy xiết. Nó bị dòng nước cuốn xuôi, nhưng không chịu thua. Nó gắng hết sức vượt lên, ngược dòng. Rất nhiều lần nó bị cuốn xuôi, nhưng nó nhất định không chịu khuất phục, lại vượt lên ngược dòng. Và tôi đã nhắc Duyên Anh hình ảnh con gọng vó để cho Duyên Anh lên tinh thần, khắc phục nghịch cảnh.

Duyên Anh hứa với tôi sẽ làm như con gọng vó. Qủa nhiên, một thời gian sau, Duyên Anh đã viết bằng tay trái khá nhanh, tuy không đẹp được như ngày xưa viết bằng tay phải. Ngày xưa Duyên Anh nổi tiếng viết khá nhanh, chữ nhỏ li ti như con kiến, và rất đều, thẳng tắp. Bây giờ viết tay trái không nhanh và đẹp bằng, nhưng chữ cũng nhỏ và đều đặn.


Nhà văn và tác phẩm

Họa vô đơn chí

Duyên Anh bị hành hung 30-4-1988, còn đang thời kỳ phục hồi sức lực và gặm nhấm đau thương thì thảm họa lại bất ngờ chụp xuống đầu anh một lần nữa.

Đó là sự mất đi đứa con gái duy nhất mà Duyên Anh rất thương vì cháu rất thông minh lanh lợi: Vũ Nguyễn Thiên Hương cùng chồng tử nạn trong chuyến máy bay trở về, sau chuyến đầu tiên về thăm quê nội làng Tường An, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Chồng của Thiên Hương là David McAree, một thanh niên hiền lành gốc Tô Cách Lan. David nói tiếng Việt khá giỏi và trước kia có thời gian làm cho đài BBC.

Khoảng gần cuối năm 1988, một hôm vợ Duyên Anh gọi điện thoại than phiền với tôi rằng con gái muốn đem chồng về thăm quê nội, nhưng chị không muốn. Chị cố thuyết phục và ngăn cản, nhưng nó vẫn giữ ý định.

Cuối cùng, chị nói, "Tao bảo mày không nghe, mày cứ đi, nếu mày có rớt máy bay mày chết, tao cũng không thương đâu!" Tôi kêu lên, "Sao chị ăn nói gì kỳ cục vậy? Nói gở như vậy, nếu rủi có chuyện gì xảy ra thì chị sẽ ân hận suốt đời đấy!"

Rồi vì bận rộn công việc, tôi cũng quên chuyện đó. Cho tới một hôm, em trai của Thiên Hương là Thiên Sơn gọi điện thoại sang báo tin, "Bác ơi! Chị Hương cháu tử nạn máy bay rồi! Bố cháu bảo cháu báo tin cho hai bác". Tôi như bị điện giật, sửng người đi một lát mới hỏi, "Sao? Còn thằng David? Bố cháu nay ra sao?" Sơn đáp: "Cả anh David cũng chết luôn. Bố cháu chỉ ngồi yên, không nói gì"

Thì ra, vợ chồng cháu Hương về Việt Nam, ghé về quê nội thăm họ hàng. Ở chơi ít ngày, David còn nhảy xuống tắm ở ao làng, cả làng ra xem. Không ngờ trên chuyến bay đến Bangkok trước khi về Pháp thì máy bay đâm xuống ruộng lúa khi gần tới thủ đô Thái Lan làm 76 người thiệt mạng.

Bà mẹ góa của David McAree xin đem hài cốt của con trai và con dâu về chôn trong hai ngôi mộ cạnh nhau gần nhà ở Tô Cách Lan.

Một thời gian sau, vợ chồng Duyên Anh được Thiên Chương là con trai lớn cùng Đặng Xuân Côn từ Mỹ sang, đưa đi thăm mộ Thiên Hương ở Tô Cách Lan. Họ ghé nhà tôi ở Luân Đôn làm trạm nghỉ chân ít ngày.

Vợ Duyên Anh không ngớt cằn nhằn chồng tại sao để cho bà sui gia giành lãnh hết tiền bồi thường của hãng hàng không. Phần Duyên Anh chỉ nói, "Cái mạng con mình đã mất rồi, còn chẳng giữ được, tranh giành tiền bạc để làm gì?"

Những tháng năm cuối đời

Bị tàn tật, chỉ sử dụng có nửa người bên trái, lại bị thêm thảm họa mất con gái, Duyên Anh như chết lịm hẳn đi. Nay trong mắt người vợ, Duyên Anh mất giá hẳn.

Cho nên Duyên Anh lại càng phải nghe những lới cằn nhằn vốn đã quá quen thuộc. Tôi không ngạc nhiên khi thấy Duyên Anh rất muốn thoát khỏi không khí tù túng của gia đình.

Thỉnh thoảng Duyên Anh sang ở với tôi ít ngày. Trong những dịp như thế, tôi lại đưa lên thành phố Cambridge cho anh thăm ông Trần Kim Tuyến và nhà văn lão thành Lãng Nhân Phùng Tất Đắc.

Những lúc như thế, Duyên Anh vui lắm, cứ như cá gặp nước. Tuy nhiên, tôi vì bận công việc nên khó thu xếp thời giờ để luôn luôn giúp bạn vui. Ngay như ở Paris, không dễ gì để Duyên Anh có thể đi đây đi đó gặp gỡ bạn bè. Họa hoằn mới nhờ được người đem xe đến chở đi. Và người có lòng tốt cũng lại ngại ngùng không muốn làm phật lòng bà Duyên Anh.

Hình như bà không muốn chồng đàn đúm, vui vẻ với bạn bè. Ngày xưa Duyên Anh còn khỏe mạnh, sẵn tiền bạc, danh vọng, thì có lý do chính đáng để bà giữ chồng vì sợ tính nết trăng hoa của chồng đã đành. Nhưng nay Duyên Anh đã tàn phế, thất thế, không tiền bạc, mà bà cũng không muốn cho chồng ra ngoài.

Khoảng giữa năm 1995, chẳng hiểu vì sao, Duyên Anh phải kéo lê cái va li nhỏ, được bà đầm hàng xóm kêu giùm cái xe taxi, để đến tá túc ở nhà bà Bích Thuận. Rồi bà Bích Thuận bị vợ Duyên Anh gọi điện thoại dùng lời lẽ khá bất nhã.

May quá, dịp đó bác sĩ Tuyến đang có mặt ở Paris, liền mua vé máy bay cho Duyên Anh sang Luân Đôn, định đến ở nhà tôi. Nhưng lại gặp rủi, là vì đúng ngày hôm sau tôi phải lên đường đi Việt Nam công tác sáu tuần lễ. Nên Duyên Anh phải lên Cambridge ở 3 tuần với bác sĩ Tuyến. Sau đó ông lại mua vé cho Duyên Anh sang Mỹ.

Sang California, Duyên Anh được một số đàn em cưu mang: ở với Vũ Trung Hiền một thời gian, rồi Nguyễn Kim Dung đón về ở một thời gian. Trong những năm này, có lần Duyên Anh trở về Paris để lấy quốc tịch Pháp. Nghe nói cũng thời gian này, FBI cử nhân viên sang Paris gặp Duyên Anh, cho biết họ đã tìm ra kẻ hành hung Duyên Anh trước kia.

Nếu Duyên Anh muốn thì khởi tố, họ sẽ bắt và đưa hung thủ ra tòa. Nhưng Duyên Anh trả lời rằng anh không muốn làm gì nữa. Người Mỹ làm việc quá chậm, còn anh thì đã cảm thấy chán hết mọi chuyện rồi. Thôi hãy bỏ đi! Cho nên vụ án này chìm và bị quên luôn!

Không phải tới năm đó Duyên Anh mới "bỏ qua" vụ án. Năm 1991 Duyên Anh sang nhà tôi. Tôi đã phỏng vấn để phát trên đài BBC. Khi được hỏi về vụ bị hành hung, Duyên Anh trả lời không còn thù hận gì những kẻ hành hung mình. Duyên Anh bảo họ cứ sống thản nhiên, đừng lo ngại. Theo anh, có thể người ta nghĩ rằng anh đã sợ. Nhưng ai muốn nghĩ sao tùy ý.


Tác phẩm “Luật hè phố”

Điều xót xa đau đớn cho Duyên Anh là trong những tháng năm cuối đời, khi đã thất thế, thân thể tàn tật, chỉ có thể sử dụng được tay trái và chân trái, nói năng cũng chậm chạp, đầu óc không còn minh mẫn như xưa, nên lắm khi cần phải có người giúp đỡ trong các sinh hoạt hàng ngày.

Vốn là người nhiều nghị lực và tự ái, Duyên Anh cố gắng, không muốn nhờ vả ai cả. Ngay trong gia đình đã thiếu đi tình thương yêu và sự an ủi săn sóc của một người vợ hiền.

Cứ nhìn cảnh Duyên Anh ngồi ăn cũng đủ thấy hoàn cảnh bi đát của anh. Thường thường, Duyên Anh thích được ăn cơm để trong cái tô lớn, có chan canh, để có thể dùng tay trái xúc bằng muỗng mà ăn. Gặp những món ăn cứng, thái miếng to, hay phải gắp bằng đũa thì chịu chết!
Đã vậy, còn bị đổ vãi ngoài ý muốn. Có khi chỉ vì một sự bất ưng ý nào đó, tô cơm đang ăn bị lấy đi, đem đổ vào thùng rác! Cho nên, đã từ lâu rồi, Duyên Anh chỉ muốn vùi đầu vào ly rượu để quên đời, quên sầu tủi.

Con người Duyên Anh

* Cái xấu

Ai cũng biết rõ là Duyên Anh có quá nhiều kẻ thù. Ấy là do tính tình ngang bướng, cao ngạo. Nhưng tại sao Duyên Anh có giọng điệu cao ngạo, xem thường thiên hạ? Tôi đã hỏi thẳng Duyên Anh điều này thì được trả lời, "Ông thấy tôi khi vào đời chưa nổi tiếng, chưa là cái gì cả, chỉ mới viết được có vài bài phóng sự gây tiếng vang, thế là linh mục Trần Du (nhật báo Hòa Bình) vội đội tôi lên. Rồi khi tôi đánh vài thằng tướng tá, chính khách tham nhũng và hèn, thì chúng nó cúp đuôi lại. Còn các bậc đàn anh mà tôi tin tưởng và quí trọng, hóa ra toàn là phường đạo đức giả hết. Thế thì làm sao tôi không khinh chúng nó, tôi không lộng?"

Khi đã có "thế" rồi, Duyên Anh khinh đời, bắt đầu viết lách, ăn nói bừa bãi, xem trời bằng vung, thì thiên hạ lại càng ngán. Cũng có người giữ thái độ "tránh voi" hoặc "không dây với hủi"

Tôi hỏi Duyên Anh rằng ngày xưa có bao giờ dùng ngòi bút để tống tiền người ta không, thì được trả lời, "Không. Nhưng khi tôi mới tung ra một bài điều tra về chuyện lem nhem ở một bộ - như Bộ Kinh tế chẳng hạn - thì lúc tôi đang ngồi ở bàn phé, tên bộ trưởng cho anh thư ký đem đến cho tôi cái phiếu mua xe Lambrette rẻ. Một lát sau, một anh khác đến xưng là người nhà của đối thủ của anh bộ trưởng, đưa tôi một phong bì. Tôi đang thua phé, thì dại gì không nhận hết? Còn hôm sau tôi viết gì là chuyện khác! Tôi chẳng bênh thằng nào cả. Cần phang là tôi vẫn phang"

Duyên Anh còn có lối ăn nói như vả vào mặt người đối thoại khi không bằng lòng người ta, bất kể thân sơ. Ví dụ một lần ngồi ăn ở Paris, trong cuộc tranh luận với Lê Trạch Lựu (tác giả bài Em tôi) về âm nhạc và liên quan đến nhạc sĩ Lương Ngọc Châu.

Lê Trạch Lựu lớn tiếng khoe: "Mày nên nhớ là tao ở gần anh Lương Ngọc Châu mấy chục năm rồi nhé!" Duyên Anh đáp liền: "Mày ở gần anh ấy mấy chục năm thì mày biết được anh ấy có mấy cái mụn ghẻ chứ mày biết gì!"

Chúng tôi phì cười cả. Một lần khác, tôi và Duyên Anh đang ngồi trong quán thì một anh tên M ở Paris đã lâu nhưng chẳng có sự nghiệp gì cả, bước vào và đến bàn chúng tôi nói dả lả mấy câu. Chẳng ngờ Duyên Anh chặn liền: "Thôi anh hãy đi về mà tắm đi đã, vì anh hôi lắm không thể nói chuyện văn nghệ với chúng tôi được!"

Tôi đá nhẹ vào chân Duyên Anh dưới gầm bàn ra ý trách móc thì Duyên Anh nói nhỏ: "Thằng này chuyên đi dò la rồi báo với Pháp những quán ăn, cửa hiệu nào của người Việt trốn thuế, tôi khinh nó!"

Lại một lần khác trong quán của bà Đào Viên là bạn chúng tôi, một anh ăn mặc có vẻ diêm dúa, xán đến nịnh Duyên Anh: "Tôi rất quí anh Duyên Anh. Tôi thích những anh em làm văn nghệ như anh". Ai ngờ Duyên Anh đập lại liền: "Anh biết gì về văn nghệ mà đòi nói chuyện văn nghệ với chúng tôi?"

Ngoài ra, Duyên Anh còn bị nhiều người ghét, vì thói viết chửi bới người ta. Số người bị là nạn nhân của Duyên Anh không ít. Đến nỗi một lần mấy thân hữu ở Paris nói với tôi, "Ông Duyên Anh chửi hết mọi người, chẳng từ ai cả. Chỉ còn có ông Vĩnh Phúc là chưa bị chửi thôi. Chưa, chứ không hẳn là không đâu nhé!" . Tôi chỉ cười chứ còn biết nói sao?

Tuy nhiên, hình như Duyên Anh có sự đối xử đặc biệt dành cho tôi. Có những lần bị tôi nói thẳng, sửa lưng, mà Duyên Anh không giận. Hay là Duyên Anh thấy tôi... vô hại, nên không chấp? Tôi thấy một điều là Duyên Anh rất thèm bạn, những người bạn chân tình, không dối trá.

* Cái tốt

Nhân vô thập toàn. Ngoại trừ các bậc thánh, còn phàm nhân, ai cũng có một phần xấu và một phần tốt. Những bậc hiền sĩ, những người giàu lòng khoan hòa độ lượng thì sẵn sàng bỏ qua cái xấu, lỗi lầm của tha nhân.

Riêng tôi dễ chấp nhận một người bạn với cả cái xấu lẫn cái tốt, miễn là người đó thực lòng với tôi. Có người hỏi tôi tại sao Duyên Anh tai tiếng và có nhiều kẻ thù như vậy mà tôi vẫn thân, tôi chỉ có thể trả lời rằng chắc chắn tôi không thuộc số những người thù ghét Duyên Anh, và vì tôi quí tài của Duyên Anh.

Theo tôi, Duyên Anh đa tài. Nếu tài của Văn Cao bao trùm 3 lãnh vực thi, nhạc, họa, thì Duyên Anh cũng có khả năng cao khi viết văn, làm thơ, và soạn nhạc. Nhưng trước hết, cũng cần nói rằng Duyên Anh là người thông minh, lanh trí, óc tưởng tượng phong phú, và có một trí nhớ rất đáng nể (khi chưa bị đánh đến chấn thương não bộ).

Học hành chẳng có bằng cấp gì, nhưng chịu đọc, chịu học ở trường đời; và sự hiểu biết, sự suy nghĩ vượt xa nhiều người mang những học vị cao.

Có lần ngồi uống rượu ở Paris, khi đã líu luỡi rồi, mà Duyên Anh còn có thể đọc liền một lúc 390 câu thơ anh đã làm trong tù.

Ở nhà tôi bên Luân Đôn, Duyên Anh nói, "Ông cứ cho tôi uống rượu đi, tôi say, tôi đọc thơ cho ông nghe". Duyên Anh không thích rượu mạnh, chỉ uống rượu chát, và hai thứ anh ưa nhất là Côte du Rhône và Beaujolais. Tuy nhiên nếu bạn bè khui rựơu hiệu gì, Duyên Anh cũng hoan hỉ chấp nhận, không kén chọn.

Về tài năng làm thơ và viết tiểu thuyết của Duyên Anh, hiển nhiên tôi chẳng cần đề cập. Nhưng có lẽ rất ít người biết là Duyên Anh cũng viết nhạc. Và đáng lẽ đã có 3 băng cassette được trình làng khoảng giữa năm 1987. Đó là các băng “Ru đời phù ảo”, “Còn thoáng chiêm bao”,“Hôn em kỷ niệm”, nhưng buổi ra mắt ở Paris bất ngờ tan vỡ vì bà vợ Duyên Anh đến phá khiến cho Duyên Anh và vị nữ mạnh thường quân phải biến mất qua cửa sau.

Tất cả các băng nhạc bị vợ Duyên Anh thu hết không cho bán ra. Bởi vậy nhạc của Duyên Anh chìm luôn, chỉ vài bạn thân còn giữ được do Duyên Anh gửi tặng từ trước.
Sau này nhân một dịp Mai Hương được mời hát mấy bản ở California, nên có một số người được biết và còn nhớ.

Nhạc của Duyên Anh mang nét đặc biệt khác lạ, từ những nốt đang hát khó đoán được những nốt kế tiếp. Chính Mai Hương đã nói rằng "nhạc của Duyên Anh khó hát. Nếu vô ý rất dễ rớt đài". Ngoài ra, ý và lời đẹp, nhiều tính sáng tạo, giống như ý và lời trong văn và thơ của Duyên Anh vậy.

Theo tôi, trong Duyên Anh có hai con người. Nếu muốn cũng có thể bảo rằng hai con người đó tượng trưng cho hai mặt tốt và xấu của Duyên Anh.

Mặt xấu chính là Duyên Anh làm báo, dưới những bút hiệu như Thương Sinh, Bếp Nhỏ, Thập Nguyên, Mõ Báo v.v... vì "đánh đấm" lung tung nên bị nhiều người oán ghét. Còn Duyên Anh nhà văn, nhất là nhà văn của tuổi thơ, nhà văn viết cho tuổi ô mai, Duyên Anh chủ trương tuần báo Tuổi Ngọc, thì trái hẳn lại, được nhiều người thương.

Có ai đã đọc “Con sáo của em tôi” mà không thấy lòng mình chùng lại và dám nói là thù ghét Duyên Anh?

Nguyễn Mạnh Côn là người đầu tiên đọc truyện ngắn này, thích quá, nên giới thiệu và chọn đăng ngay. Rồi Nguyễn Mạnh Côn bảo Duyên Anh, "Cậu viết hay quá! Nhưng tôi sợ rằng viết như thế này, cậu sẽ không thọ!"

Và câu nói của Nguyễn Mạnh Côn đã như một lời tiên tri: Duyên Anh lìa đời cách đây 20 năm khi mới 63 tuổi. Vào thời buổi này, với những điều kiện vật chất văn minh và đầy đủ, mà sống có bấy nhiêu năm thì quả là "yểu mệnh" thật.


“Dzũng Đa Kao”

***

Tiểu sử nhà văn Duyên Anh (1935-1997)

Duyên Anh tên thật là Vũ Mộng Long, những bút hiệu khác là Thương Sinh, Mõ Báo, Thập Nguyên, Vạn Tóc Mai, Lệnh Hồ Xung, Thái Anh, Nã Cẩu, Bếp Nhỏ, Bếp Phụ và Độc Ngữ.

Ông sinh ngày 16/8/1935 tại làng Tường An, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Ông học tiểu học và trung học ở Thái Bình và Hà Nội. Năm 1954, ông di cư vào Nam và từng làm đủ nghề: bán thuốc sơn đông mãi võ, theo đoàn cải lương lưu diễn, quảng cáo cho gánh xiếc rong, giữ xe đạp hội chợ, dạy kèm, dạy đàn ghi ta, dạy sáo.

Năm 1960, được sự nâng đỡ tận tình của nhà văn Nguyễn Mạnh Côn, Duyên Anh bắt đầu sự nghiệp văn chương và nổi tiếng ngay với tác phẩm đầu tay Hoa Thiên Lý. Tiếp theo đó là một loạt Thằng Côn, Thằng Vũ, Con Thúy.... viết về những kỷ niệm ấu thơ tại miền quê Bắc Việt, giọng văn tha thiết, nhẹ nhàng và tình cảm.

Sau đó ông trở thành một ký giả, chủ bút, chủ báo, giám đốc nhà xuất bản. Duyên Anh đã cộng tác với hầu hết những tờ báo lớn ở miền Nam trước năm 1975 như: Xây dựng, Sống, Chính Luận, Công Luận, Con Ong, Tuổi Ngọc...

Có một dạo, Duyên Anh thường viết về giới giang hồ, bụi đời trong xã hội trước năm 1975. Trong tác phẩm của Duyên Anh ca ngợi lối sống phóng khoáng, bất cần đời của giới trẻ bị bế tắc trong cuộc sống. Tuy nhiên vẫn thấm đậm một tính cách nghĩa khí và các nhân vật của Duyên Anh đều sẵn sàng chết vì tình nghĩa và chữ tín của mình. Các tác phẩm mổi tiếng phải kể đến “Ðiệu ru nước mắt”, “Luật hè phố”, “Dzũng ÐaKao”, “Vết thù hằn trên lưng con ngựa hoang”, “Nặng nợ giang hồ”, “Bồn Lừa”…

Sau sự kiện 30 tháng 4, 1975, cùng với Doãn Quốc Sĩ, Dương Nghiễm Mậu, Nhã Ca, Phan Nhật Nam, Thanh Tâm Tuyền, Duyên Anh bị liệt danh là một trong 10 nghệ sĩ nêu danh là "Những Tên Biệt Kích của Chủ nghĩa Thực Dân Mới Trên Mặt Trận Văn Hóa - Tư Tưởng" và tác phẩm bị cấm lưu hành.

Ngày 8/4/1976, Duyên Anh bị bắt đi tù cải tạo trong Chiến dịch bắt văn nghệ sĩ miền Nam (tháng 4/1976). Sau khi ra khỏi trại cải tạo vào tháng 11/1981 ông vượt biên đến Malaysia. Tháng 10 năm 1983 Duyên Anh sang định cư tại Pháp. Một số tác phẩm ông viết ở Hải ngoại được dịch ra tiếng nước ngoài và dựng thành phim, như “Đồi Fanta”, “Một Người Nga ở Sài Gòn”. Thời gian này, ông cũng có viết thơ và soạn nhạc. Năm 1985, ông bắt đầu cộng tác với tờ Ngày Nay và trở thành một trong những cây bút trụ cột của báo này.

Ngày 6/2/1997, Duyên Anh mất vì bệnh xơ gan tại Paris, Pháp.


Tác phẩm của nhà văn Duyên Anh

***





--> Read more..

Popular posts